PDA

Xem bản đầy đủ : Đức Phật Dạy Con Như Thế Nào


VoDanh
21-12-2010, 10:23 am
Gil Fronsdal
(Nguyên tác: “The Buddha as a Parent”, Tạp chí Inquiring Mind, số Xuân 2008)

Ngày nay, hầu như người Phật tử nào cũng biết rằng Thái tử Tất Đạt Đa, tức Đức Phật sau này, đã lìa bỏ gia đình của mình để đi tìm con đường giải thoát vào chính cái ngày La Hầu La — đứa con trai [duy nhất] của Ngài — chào đời. Nhiều người cảm thấy không thoải mái, thậm chí tức giận, trước một hành động mà họ cho là “thiếu trách nhiệm” như vậy. Song, có một điều họ chưa biết, đó là sau khi đạt được giác ngộ, Đức Phật đã trở thành người dạy dỗ chính cho con trai của mình trong suốt thời niên thiếu, kể từ khi La Hầu La lên 7 tuổi, và Ngài đã là một người cha tuyệt vời: La Hầu La đã đạt được giác ngộ ở tuổi mới bắt đầu trưởng thành [20]. Vậy, ta hãy tự hỏi, Đức Phật là một người cha như thế nào? Phương pháp dạy con của Ngài ra sao? Làm thế nào một bậc giác ngộ trao truyền những giá trị tâm linh của mình cho con cái?
Kinh điển không đề cập nhiều đến mối quan hệ cha-con giữa Đức Phật và La Hầu La, nhưng đâu đó có để lại vài mẩu chuyện thú vị về việc Đức Phật đã dẫn dắt con mình như thế nào trên con đường trưởng thành. Các bộ kinh trước đó thường nói về việc La Hầu La đã trở thành đồ đệ của Đức Phật như thế nào, nhưng phần lớn những mẩu chuyện này nằm trong 3 bài pháp mà, nếu ta gom chúng lại với nhau, nó chính là một tiến trình liên tục của con đường dẫn tới giác ngộ: lúc La Hầu La 7 tuổi, Đức Phật dạy cho con về đạo đức; lúc La Hầu La 10 tuổi, Đức Phật dạy cho con thiền; và lúc 20 tuổi, Ngài dạy về tuệ giác giải thoát. Quá trình trưởng thành của La Hầu La, vì vậy, tiến triển song song với tiến trình giác ngộ của Đức Phật.
Khi con trai của tôi tròn 7 tuổi, tôi bắt đầu suy tư về việc làm cách nào để dẫn dắt nó và em trai của nó trên con đường tâm linh. Ít nhất, tôi muốn chúng nó học và thực hành Phật pháp đủ để sau này lớn lên chúng có thể trở về với những tiềm lực đó nếu chúng thích hay cần đến. Tôi cũng nghĩ rằng nếu các con tôi có thể nương tựa nơi Phật pháp, thì sau này, dù đang ở bất cứ nơi đâu, chúng cũng có thể quay về với cái mái ấm đó. Nhất là, vì đối với tôi, gia tài lớn nhất mà tôi có được qua sự thực tập Phật pháp là sự an lạc, thảnh thơi, và lòng từ bi, tôi tự hỏi làm cách nào tôi có thể trao truyền cái gia tài tâm linh đó lại cho thế hệ sau. Được biết La Hầu La bắt đầu được Đức Phật dạy dỗ từ năm 7 tuổi, tôi lục tìm trong những bản kinh tiếng Pali để học lấy những phương pháp mà Đức Phật đã sử dụng để dạy dỗ con của Ngài.
Tôi tìm thấy trong các bản kinh này cách làm thế nào để lại một di sản tâm linh thật đẹp. Sáu năm sau khi Đức Phật rời bỏ gia đình, và một năm sau khi đạt được giác ngộ, Đức Phật trở về kinh thành. La Hầu La, lúc ấy 7 tuổi, theo lời mẹ, chạy đến bên cha để xin thừa hưởng gia tài. Nếu như ngày xưa Thái tử Tất Đạt Đa không bỏ kinh thành ra đi, thì bây giờ La Hầu La đã được truyền ngôi vua. Nhưng là một người đã buông bỏ hết tất cả, sống đời khổ hạnh, Đức Phật có thể trao lại cho con mình cái gì? Đáp lời La Hầu La, Đức Phật quay sang nói với Ngài Xá Lợi Phất (Sariputta), một đồ đệ thân tín của Đức Phật: “Hãy thâu nhận nó.” [Như vậy], thay vì được ngôi vua, La Hầu La đã được thừa hưởng con đường đi của cha mình — con đường dẫn tới giải thoát.
Có lẽ còn lâu lắm con trai tôi mới cạo trọc đầu và khoác lên mình chiếc áo cà sa, nhưng tôi vẫn muốn cho con tôi tiếp xúc với những điều căn bản của Phật pháp, những điều đã giúp tôi thay đổi cuộc đời của chính tôi. Khi tôi đọc những đoạn kinh về cách Đức Phật dạy La Hầu La, tôi ngạc nhiên nhận ra rằng những điều này không những vẫn còn mới mẻ mà còn rất thích hợp với việc dạy con ở nước Mỹ này, trong thời hiện đại này. Thật vậy, những bài pháp này đã trở thành kim chỉ nam cho tôi trong việc dạy con.
ĐẠO ĐỨC
Câu chuyện đầu tiên kể về La Hầu La được Đức Phật dạy về lòng chính trực (integrity) như thế nào. Lúc lên 8 tuổi, La Hầu La đã nói dối. Bài Kinh Giáo Giới La Hầu La (Trung Bộ Kinh, 61) kể rằng sau khi tọa thiền xong, Đức Phật đến tìm La Hầu La. Sau khi mời cha ngồi, La Hầu La lấy một thau nước cho cha rửa chân, theo phong tục hồi đó. Sau khi rửa chân xong, Đức Phật hỏi: “Này, La Hầu La, con có thấy chút nước còn lại trong cái thau này không?”
“Dạ, con có thấy” – La Hầu La thưa.
“Đời của một người tu cũng chỉ đáng bằng một chút nước này thôi, nếu như người đó cố tình nói dối.”
Tôi tưởng tượng La Hầu La đỏ mặt lên.
Sau đó, Đức Phật hất đổ hết nước trong thau ra và nói: “Đời của một người tu cũng đáng vất bỏ đi như vầy nếu như người đó cố tình nói dối.”
Xong, Đức Phật lật cái thau úp xuống và nói: “Đời của một người tu sẽ trở nên đảo lộn như thế này nếu như người đó cố tình nói dối.”
Và, để nhấn mạnh thêm nữa, Đức Phật lật ngửa cái thau trở lại và nói: “Đời của một người tu cũng trở nên trống rỗng như cái thau này nếu như người đó cố tình nói dối.”
Sau đó Ngài dạy con: “Đối với một người cố tình nói dối, không có một tội lỗi xấu xa nào mà người đó không thể làm. Vì vậy, La Hầu La, con hãy tập đừng bao giờ nói dối, cho dù đó là một lời nói đùa.”
Câu chuyện trên đây nhắc nhở tôi rằng những lời la mắng giận dữ với con cái thực ra chỉ có sức mạnh mà không có nội lực. Đức Phật đã rất bình tĩnh, chọn thời điểm đúng lúc để dạy con mà không trừng phạt hay nổi giận với con.
Sau bài thuyết giảng ngắn mà rõ ràng về việc nói dối đó, tôi tưởng tượng La Hầu La đã lắng nghe cha hơn. Sau đó, Đức Phật chỉ dẫn con làm sao để suy xét mọi hành động của mình.“Cái gương dùng để làm gì?” – Ngài hỏi.
“Bạch Đức Thế Tôn, gương dùng để soi” – La Hầu La đáp.
Đức Phật lại dạy : “Trong khi chuẩn bị làm điều chi bằng thân, khẩu, ý, con phải quán chiếu: hành động này có gây tổn hại cho ta hoặc cho kẻ khác không? Nếu, sau khi đã quán chiếu, con thấy rằng hành động đó sẽ có hại, thì con hãy đừng làm. Còn nếu con thấy rằng hành động đó có ích lợi cho con và cho kẻ khác, thì con hãy làm.”
Tôi chợt nhận ra rằng thay vì dạy cho con mình nhận biết sự khác biệt tuyệt đối giữa đúng vàsai, Đức Phật đã dạy cho con mình suy gẫm về lợi ích và có hại. Điều này đòi hỏi cả sự tự tri (self-awareness) lẫn sự đồng cảm (empathy). Đặt nền tảng của đạo đức dựa trên “có lợi” hay “có hại” giúp giải thoát đời sống đạo đức của ta khỏi những khái niệm trừu tượng và những ý niệm chẳng ăn nhập gì tới hậu quả của việc ta làm. “Có lợi” và “có hại” cũng giúp cho con người nhận biết mục tiêu của mình. Những điều ta làm hoặc sẽ đối nghịch hoặc sẽ thuận chiều với con đường ta đang đi.
Phương pháp giáo hoá của Đức Phật khiến cho tôi càng tin tưởng thêm rằng chúng ta cần gieo xuống nơi tâm hồn con trẻ những hạt giống của tình thương, những hạt giống của ý thức về việc mỗi hành động của nó sẽ ảnh hưởng đến người khác như thế nào. Sức mạnh của sự quán chiếu và lòng từ bi sẽ không có được nếu đứa trẻ chỉ biết vâng theo lời của người lớn: “Con hãy biết quán chiếu, và hãy có lòng từ bi!” Những giá trị này chỉ có thể có được qua gương của người khác, nhất là của cha mẹ đứa trẻ.
Đức Phật cũng dạy cho La Hầu La hãy xem xét sau khi làm một việc gì đó, nó có gây tổn hại gì không. Nếu có, thì phải đến gặp một người có tuệ giác và sám hối để tránh lặp lại lỗi lầm trong tương lai. Tôi đã học được cách hướng dẫn con trẻ phát triển lòng chính trực bằng cách nhận ra lỗi lầm của mình. Và lòng chính trực đó tuỳ thuộc rất nhiều vào cách cha mẹ thấy lỗi lầm của con mình ra sao. Cách hành xử của cha mẹ ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển đạo đức của con trẻ: nếu cha mẹ cho con trẻ thấy được là nó có thể tin tưởng mình được, là mình chỉ muốn giúp cho con mình trưởng thành hơn là muốn trừng phạt con, thì con trẻ sẽ trở nên thành thật với cha mẹ của chúng hơn.
THIỀN ĐỊNH
Câu chuyện thứ hai nói về việc Đức Phật đã dạy thiền cho La Hầu La ra sao, để phát triển nền tảng của nội tâm (Trung Bộ Kinh, 62). Lúc đó La Hầu La được 10 tuổi. Câu chuyện bắt đầu trong lúc hai cha con đang đi thiền hành. Trong lúc đi, La Hầu Ha chợt thấy hãnh diện về vẻ đẹp của mình, và tư tưởng đó Đức Phật đã đọc được.
Ngài nói với con: “Nhìn bằng con mắt của tuệ giác, cái thân này không phải là tôi (me), không phải là của tôi (mine), không phải là tự ngã của tôi (myself).” Rồi Đức Phật giảng tiếp: ta phải loại bỏ hết tất cả tưởng, hành, thức cũng như bất cứ khái niệm nào về tôi, của tôi, và tự ngã của tôi. Nghe những lời dạy này xong, La Hầu La cảm thấy hổ thẹn, lui về thiền viện, và không thiết đến việc ăn uống gì cả suốt ngày hôm đó.
Tôi cho rằng đây là sự dạy dỗ căn bản cho con trẻ. Tôi không thể tưởng tượng được một em thiếu niên có thể hiểu được những lời Phật dạy như thế. Tôi nhớ lại, rất rõ ràng, rằng ở vào tuổi đó, đầu óc tôi chỉ toàn nghĩ đến dung mạo của tôi ra sao. Tôi thường nghe nói rằng điều này rất là quan trọng cho tiến trình phát triển của các em về “cái tôi”, và quá trình đi tìm kiếm bản thân mình. Có nên trách một em trai 14 tuổi về những ý tưởng phù du như vậy hay không? Có phải Đức Phật đã xen vào những vấn đề nằm trong tiến trình phát triển bình thường của con trẻ, thay vì để các em thảo luận với nhau? Nếu không có hiểu biết về “cái tôi”, làm sao một thiếu niên có thể phát triển thành một người lớn với sự cân bằng về tâm lý?
Đức Phật trả lời những câu hỏi này qua những gì Ngài đã làm cho con của Ngài.
Tối hôm đó, sau khi bị Đức Phật quở trách, La Hầu La đến xin cha dạy cho mình phương pháp thiền quán hơi thở. Trước hết, Đức Phật dùng thí dụ để minh hoạ làm sao đạt được sự thanh thản trong lúc ngồi thiền. Ngài dạy:
“Con phải thiền làm sao giống như đất vậy: đất không cảm thấy phiền vì bất cứ một thứ gì đổ lên đó. Vì vậy, nếu con tập thiền giống như đất, con sẽ không có cảm giác vui thích hay không vui thích về bất cứ một điều gì. Hãy tập thiền như nước, như lửa, như gió, và như không gian: tất cả đều không cảm thấy phiền bởi những cảm giác vui thích hay không vui thích. Thực tập được như nước, như lửa, như gió, như không gian, tâm của con sẽ không còn vướng bận gì cả.”
Rồi, trước khi dạy cho La Hầu La phép thở, Đức Phật dạy cho con về quán tâm từ như là một phương thuốc giải độc trừ khử ác tâm, về tâm bi để vượt thắng sự tàn ác, về tâm hỷ để thuần phục những sự bất toại nguyện, và về tâm xả để ngăn chặn những bất an, thương ghét.
Sau đó, Ngài mới bắt đầu dạy cho con phép thở qua 16 giai đoạn. Những giai đoạn này chia thành 3 phần: a) tịnh tâm; b) định tâm để nhận biết thân tâm và phát triển tuệ giác; và c) buông xả. Cuối cùng, Ngài nhấn mạnh rằng bằng sự thực tập ý thức từng hơi thở của mình, con người sẽ có khả năng ý thức một cách bình thản hơi thở cuối cùng của mình trước khi từ giã cõi đời.
Khi đọc về cách thức Đức Phật dạy con về phép thở để nhận biết thân tâm của mình, tôi nhận thấy đó cũng là một phương pháp để xây dựng một khái niệm vững chắc về “cái tôi”. Tôi tự nghĩ, phải chăng các em thiếu niên ở thời đại ngày nay hay chấp vào “cái tôi” của mình và có nhiều ý niệm phân biệt mình với kẻ khác, là vì các em không cảm thấy thoải mái với chính bản thân mình và với người khác? Và tôi tin rằng, cái chấp và sự phân biệt ấy sẽ không còn nữa nếu các em cảm thấy an vui được với chính mình cũng như thoải mái với người chung quanh.
Khi giảng dạy thiền cho thiếu niên, tôi nhận thấy khả năng thiền của các em nhảy bực vào khoảng 13-14 tuổi. Có nhiều em có thể nhập thiền rất sâu, tuy rằng các em không duy trì được trạng thái này lâu lắm. Tôi đã biết rất nhiều người trẻ dùng phương pháp thiền định để ổn định tinh thần và tìm về sự thảnh thơi giữa những thử thách của tuổi mới lớn.
Tuy nhiên, thiền quán hơi thở không chỉ ích lợi cho các em thiếu niên, mà nó còn là cuộc hành trình suốt cuộc đời của con người. Đức Phật đã kết thúc bài giảng của mình bằng cách chỉ cho La Hầu La thấy giá trị của việc tập thiền quán hơi thở như thế nào đối với giây phút cuối cùng của cuộc đời mình.
TUỆ GIÁC
Trong đoạn kinh thứ ba và cuối cùng, Đức Phật đã hướng dẫn La Hầu La trả lời một loạt những câu hỏi về tuệ giác giải thoát (Trung Bộ Kinh , 147). La Hầu La đã dâng trọn thời niên thiếu của mình cho con đường đạt đến giác ngộ; trong một đoạn văn, Ngài được xem là một nhà tu gương mẫu và tinh chuyên. Khi La Hầu La tròn 20 tuổi, Đức Phật biết rằng con trai của mình đã gần đạt đến sự giải thoát. Ngài đã làm một việc rất cảm động: Ngài đi bộ cùng với con vào sâu trong rừng. Ngồi dưới gốc một cây đại thụ già cỗi, Ngài đã hướng dẫn La Hầu La một cuộc pháp đàm rất kỹ về thuyết vô ngã. Đối với một người đã đạt đến trình độ tu tập cao như La Hầu La, những tư tưởng nằm sâu trong tiềm thức về cái ngã là chướng ngại cuối cùng của sự giải thoát. Ngồi nghe Đức Phật giảng, La Hầu La đã chứng được tự tính vô ngã của vạn pháp, và đó chính là bước cuối cùng giúp La Hầu La đạt đến sự giải thoát trọn vẹn.
Thuyết vô ngã của Đức Phật không phải là đơn giản. Người ta rất dễ hiểu lầm nó là một triết thuyết trừu tượng, mà không thấy được thực ra đó chính là những lời dạy rất thực tế về việc làm sao để tìm thấy hạnh phúc bằng cách buông bỏ hết tất cả. Đối với tôi, việc Đức Phật dạy con về thuyết vô ngã trong rừng sâu rất cần thiết. Tôi thấy mình có cái nhìn khác khi ở giữa thiên nhiên so với khi ở giữa phố thị. Tôi nhận thấy cảm giác an lạc và thảnh thơi mà thiên nhiên mang lại giúp mình dễ thoát ra được cái “ngã” hơn. Quán chiếu về sự buông xả trong khi đọc muột cuốn sách về Phật pháp khi ngồi ở trong nhà rất là khác với khi mình ngồi dưới một gốc cây. Trong khi đọc bài pháp thứ ba này, tôi chiêm nghiệm được sự quan trọng của việc biết mình (tự tri) giữa khung cảnh thiên nhiên.
Ngày xưa, lúc La Hầu La 7 tuổi, đến xin với cha được thừa hưởng gia tài, Ngài đã không hề tưởng tượng được là 13 năm sau đó, Ngài đã được thừa hưởng một gia tài quý báu nhất mà một người làm cha mẹ có thể để lại cho con của mình. Trong Phật giáo, giác ngộ là hạnh phúc lớn lao nhất. Tôi ước mong con cái của tôi sẽ tìm thấy sự an lạc, thảnh thơi, và an lành trên con đường đi tới giải thoát. Có lẽ, trên con đường trở thành người lớn, chúng cũng sẽ được dạy về đạo đức, thiền định, và tuệ giác [như La Hầu La vậy].

Hoài Hương chuyển ngữ
VA, Apr 29, 2008

Tiến sĩ Gil Fronsdal đang giảng dạy Thiền tại Insight Meditation Center ở Redwood City, California, USA. Ông có vợ và hai con.

admin
28-12-2010, 9:44 pm
Ván Cờ Sinh Tử
Minh Đức – Triều Tâm Ảnh

http://2.bp.blogspot.com/_SbGSSRU5LeE/ScVBOYMV8aI/AAAAAAAAB8M/Qzg5gCmclI4/s400/Chinese+chess+from+Nantou+travel+ad+03+21+09.jpg
http://www.hoavouu.com/D_1-2_2-59_4-3195_5-50_6-1_17-12_14-2_10-785_12-1/

Thanh niên Ka-jo-ju sau khi thất vọng về đường công danh, tình yêu, sự nghiệp bèn tìm đến một tu viện trên non cao và thưa với Tu viện trưởng:
- Thưa ngài! Con đã thấy rõ bộ mặt thật của đời nên mong muốn giải thoát khỏi những đau khổ. Thế nhưng, con không có khả năng hành trì một thứ gì lâu dài. Không bao giờ con có thể sống nhiều năm trong một thiền định, học tập, giới luật hay cái gì nghiêm túc tương tự như vây. Con sẽ thối chí và rơi trở vào cuộc đời, dẫu biết rằng mình không còn chịu đựng được. Quyên sinh là biện pháp hay nhất, có lẽ. Thưa ngài! Vậy thì còn con đường nào ngắn nhất, dễ dàng nhất dành cho những kẻ như con hay không?

- Có chứ!

Tu viện trưởng một thoáng lạ lùng nhìn người thanh niên rồi trả lời:

– Nếu con trung thực! Nhưng hãy cho ta biết là con đã học những thứ gì? Sở trí ra sao? Có thể có những khả năng như thế nào? Thảng hoặc, con thường hay tập trung tâm ý nhiều nhất vào chuyện gì?

Ka-jo-ju có vẻ nghĩ ngợi, sau đó, y thở dài thườn thượt:

- Ôi! Thực sự thì không có thứ gì! Con chưa nghĩ là mình phải nên như thế này hoặc nên như thế nọ! Vả chăng, mục đích của sự học cũng chỉ đưa đến hư vô và phù phiếm! Công danh, sự nghiệp giữa cuộc đời này cũng chỉ là giấc mộng đầu hôm. Hiện giờ gia đình con lại khá giả nên con không cần phải làm việc. Riêng về sở thích thì … tuyệt, con thích đánh cờ nhất! Cả đời, dường như tâm trí con chỉ tập trung vào đó thôi. Trong vài cuộc tranh giải gồm những kỳ thủ già dặn bốn phương, thỉnh thoảng con cũng giật được một phần thưởng ưu hạng.

- Rất tốt!

Tu viện trưởng gật đầu:

- Chưa đến nỗi phải bỏ đi. Nhưng mà điều này mới thật là quan trọng, con có niềm tin nào nơi ta không chứ?

- Con đã chọn lựa.

- Thế nào?

- Ngài là Kiếm vương!

Thanh niên Ka-jo-ju chợt nói lớn:

- Lại là Kỳ vương nữa. Ngài đã dùng sức mạnh của đạo đức và trí tuệ để thu phục nơi tu viện này những con ngựa hung hăng nhất, những tay giang hồ kiêu ngạo và bạc hãnh nhất. Không cần phải nói rằng người ta tín phục ngài như thế nào, ngài Tu viện trưởng ạ!

- Hỡi con, này Ka-jo-ju! Ta muốn hiểu cường độ tín phục ấy ở riêng nơi con thôi.

Nghe gọi đúng tên mình, Ka-jo-ju rúng động cả châu thân. Bất giác, thanh niên đưa mắt nhìn Tu viện trưởng, và y cảm thấy một sức thu hút kỳ lạ không cưỡng được.

Ka-jo-ju gật:

- Tín phục. Con hoàn toàn tín phục.

Tu viện trưởng chậm rãi quay qua bảo thị giả:

- Vậy hãy cho gọi tu sĩ Mu-ju đến đây cùng với bàn cờ của y.

Người được gọi là một tu sĩ trẻ, rất trẻ, vóc người tầm thước, dáng dấp nho nhã, khuôn mặt sáng rỡ, tròn trặn đầy phúc hậu.

-Mu-ju con!

-Bạch thầy, con nghe.

-Bao nhiêu năm con theo thầy học đạo. Con mời cơm, ta ăn. Ta gọi, con dạ. Ta giẫy cỏ, con cuốc đất … Tình thầy trò giữa chúng ta thật không có gì đáng phải phàn nàn cả chứ?

- Dạ, quả thế thật.

- Ta còn muốn hỏi rõ hơn nữa. Từ trước đến nay, con không hề mảy may nghi ngờ gì nơi ta đấy chứ?

- Phải nói ngược lại, bạch thầy – giọng tu sĩ trẻ chợt như viên đá nặng ngàn cân – phải nói là con tuân phục thầy một cách tuyệt đối.

- Rất tốt! Vậy này Mu-ju! Ngây bay giờ ta yêu cầu con sự tuân phục “Kim cương bất hoại” đó.

- Xin vâng.

Tu viện trưởng – chính là thiền sư Dai-so-kim - chợt đứng dậy, bước tới bức tường phía đông. Ở đó có treo 1 thanh kiếm cổ, vỏ nạm bạc khảm xà cừ, nhưng tuế nguyệt đã phủ lên đấy môt lớp bụi đục. Gần nửa thế kỉ nay, ngài không đụng đến thanh kiếm ấy. Cái thời Kiếm vương trai tráng oanh liệt dường như mới hôm qua đây thôi. Ngài thò tay. Một tiếng động khẽ vang lên. Kiếm đã ra khỏi vỏ. Mũi kiếm sắc lạnh ngời ánh thép xanh biếc.

Thiền-sư Dai-so-kim quay lại, đứng thẳng như một cõi tùng gân guốc.

- Này Mu-ju ! Ngài nói chậm rãi – Con hãy chơi cờ với chàng thanh niên này. Và nghe đây ! Nếu con thua, ta sẽ chém đầu con. Nhưng ta hứa là con sẽ được tái sanh vào một cõi lạc phúc. Nếu con thắng, ta sẽ chém đầu chàng thanh niên. Suốt đời anh ta mê mải ham thích trò chơi đó, nếu để thua thì chém đầu y chẳng oan tí nào.

Hai người lạnh toát sống lưng nhìn Tu viện trưởng, và trong thoáng giây đó, họ hiểu rằng ngài nói thật.

Thanh niên Ka-jo-ju đứng trân, bất động, loáng thoáng theo hơi gió buốt lạnh câu nói xa xưa của Kiếm vương: “Ta ít khi rút kiếm ra khỏi bao, rút ra là phải chém!” Bất giác, thanh niên đưa tay sờ lên cổ mình, mồ hôi lấm tấm, gai lạnh. Tu sĩ Mu-ju chỉ thoáng một giây sợ hãi như tí gợn trên mặt hồ rồi mất. Trọn đời bằng vào đức tin tuyệt đối nơi đức Thầy, nên việc giao phó định mệnh không phải là điều đáng suy nghĩ lâu.

Giữa thiền đường, lư trầm nghi ngút. Cơn gió lạnh lẽo lùa qua liếp cửa . Thiền sư Dai-so-kim ngồi xuống sau làn khói lung linh mờ ảo, tay nắm chặt đốc kiếm trịnh trọng với phong độ của một bậc tôn sư. Không khí đọng lại, trang nghiêm và tĩnh mịch đến ghê người.

Cả hai hoàn toàn bị khiếp phục.

Họ bắt đầu bước vào ván cờ sinh tử.

Ván cờ không còn là trò chơi nữa. Là cái gì nghiêm trọng nhất trên đời này. Ván cờ chính là cuộc đời . Ván cờ chính là sinh tử. Và cả hai hoàn toàn tập trung tâm ý vào đó không một mảy may dám xao lãng.

Chỉ vài nước khởi đầu, thanh niên đã sớm hiểu mình đang đối đương với một địch thủ kỳ tài và già dặn. Tu sĩ trẻ lại un đúc trầm tĩnh của thiền môn. Đó là những yếu tố đáng ngại. Mồ hôi từ trán chàng thanh niên chảy dài xuống ngực. Tu sĩ Mu-ju đã chiếm ưu thế mất rồi. Và như là một lão ngựa tự tin, sung sức – chỉ cần sải từng bước đều đặn giữ khoảng cách đầu ngựa.

Chiến thắng chỉ còn là thời gian.

Ka-jo-ju quên ngoại cảnh, quên bản thân, quên cả việc sống chết. Ngay giây phút này – tình yêu, công danh, sự nghiệp, ưu hận – là những đám mây đen bị xua tan một cách nhanh chóng. Tâm trí Ka-jo-ju hoàn toàn chú mục vào cái đam mê duy nhất của đời mình. Phong độ, sinh lực, thiện xảo, sự thông minh dễ dàng trở lại với chàng. Thế là Ka-jo-ju khôn khéo gỡ từng thế một. Tuy nhiên, tu sĩ Mu-ju vẫn tranh tiên. Rất chậm, vững chãi, từng bước vây hãm thành trì, không một sơ hở tối thiểu để cho chàng thanh niên lập lại thế quân bình.

Đột nhiên, thanh niên Ka-jo-ju bỏ thủ, bỏ cả thành trì, huy sinh quân mã, tung những đòn chớp giật. Lớp chết, lớp khác xông lên với khí thế quyết tử. Lấy công làm thủ là chiến thuật bình thường, nhưng sự hi sinh quá đột ngột, liều lĩnh và táo bạo như vậy thì quả là Mu-ju mới thấy lần đầu. Đến lượt tu sĩ trẻ toát mồ hôi, từng giọt, từng giọt rỏ xuống bàn cờ. Ka-jo-ju chỉ chờ có thế. Chỉ cần một thoáng bối rối lưỡng lự của đối thủ là y chém đông chém tây những thế táo bạo – nhưng chỉ là hư chiêu – rồi rút về an toàn, bình chân như vại.

- Đệ tử vây Ngụy, cứu Triệu, hao tổn tâm cơ là chỉ mong cái thế bảo toàn – Ka-jo-ju thở phào nói – Thật ra, nếu đệ tử không thất vọng tình đời thì không đi những thế tuyệt mạng như vậy. Vì từ bi, vì trung hậu và chơn chất mà tiểu sư phụ mất thế thượng phong. Hiện giờ tiểu sư phụ dẫu hơn quan nhưng chuyện thắng bại khó biết phần ai.

Lợi dụng khi quân mã tu sĩ đang tản mạn đó đây, thanh niên kéo đôi pháo giăng về giữ trung quân. Binh lính và ngựa ngăn ở ven sông. Một xa chợt đông, chợt tây, chợt tấn, chợt thoái xông xáo giữa chốn thiên binh vạn mã.

Tu sĩ trẻ bắt đầu thấy mình yếu thế. Tự tin một thoáng lay động là phía tả tiền bị viên hổ tướng của địch phá vỡ. Lão ngựa già của đối phương đươc hai chốt hộ vệ chặt chẽ, hờm sẵn đã lâu, bây giờ hung hăng nhảy đến thí mạng. Thế là đôi pháo bất khuất kiên cường của tu sĩ bị loại khỏi vòng chiến.

Mu-ju đã rơi vào thế thủ. Thỉnh thoảng vẫn đánh trả những đòn đầy trầm tĩnh và nội lực nhưng thanh niên vẫn đón đỡ dễ dàng. Vào phút bất ngờ nhất, thanh niên Ka-jo-ju tung quân dự bị. Hai pháo giữ nhà đồng loạt vọt qua sông, tung đòn tối hậu.

Tu sĩ đã nguy cơ thập tử nhất sinh.

Thanh niên len lén đưa mắt nhìn vị sư. Đấy là một khuôn mặt trong sáng đầy trí tuệ do bao năm tinh cần giới luật. Ôi! Một dung dấp thật đẹp ở trong một tinh thần cao khiết. Thanh niên nghĩ. Vị tu sĩ này từ hoà và đôn hậu hết mực, mang linh hồn trong sáng như viên ngọc không vết tì nhiễm. Ôi! Đâu có có hắc ám, bụi bặm, hiếu chiến, táo tợn và đa sát cuộc đời như ta? Ôi! Một nhân cách như vậy mà bị kết liễu cuộc đời thật uổng lắm thay! Ta là gì ? Một kẻ du thủ du thực, vô tích sự, ăn bám mẹ cha va xã hội; nếp sống dơ dáy, hư hỏng, nội tâm đầy rẫy những ham muốn bất chánh và hèn hạ. Giá trị đời ta chỉ có thế thôi . Rơm rác còn có ích hơn ta.

Thanh niên nhè nhẹ thở dài. Và lòng từ bi khởi lên dịu dàng xâm chiếm lòng chàng. Ôi! Cuộc đời vô giá trị của ta nên hi sinh cho cuộc đời có giá trị.

Nghĩ thế xong, thanh niên khôn khéo tạo những sơ hở kín đáo, chỉ những kì thủ trứ danh mới biết được. Một thế, hai thế. Vậy là quá đủ cho tu sĩ lấy lại thế quân bình rồi chiếm luôn ưu thế tấn công.

Thanh niên Ka-jo-hu biết mình sẽ thua, lát nữa thôi, nhưng chàng không đổ mồ hôi, không lạnh lưng, không lạnh gáy. Một an tĩnh mênh mông, thân thiết vây phủ tâm hồn chàng. Chưa bao giờ mà chàng chời đợi cái thua – nghĩa là chờ đợi cái chết – một cách dịu dàng, trong sáng, bình lặng và thanh khiết như vậy.

Tu sĩ trẻ ngần ngại. Ngón tay vừa thò xuống quân cờ định mệnh, vội rút lui. Cũng vì lòng từ bi mà tu sĩ không nỡ hạ thủ.

Bàn cờ bất động giữa hai người.

Đối với những tay cờ ưu hạng, không có thế cuối cùng, Ka-jo-ju hiểu vậy, và vì đã nguyện hi sinh, bèn thò tay xuống …

Bỗng một làn khí lạnh lướt qua. Tu sĩ Mu-ju thoáng thấy thiền sư Dai-so-kim đứng dậy chập chờn sau làn khói hương. Và một tia chớp phủ chụp xuống đầu chàng thanh niên. Tu sĩ nhắm mắt lại, khẽ tuyên Phật hiệu …

Thiền đường lặng ngắt như tờ. Tu sĩ trẻ định thần mở mắt ra. Mắt y chợt tròn vo, kinh ngạc. Cái đầu với tóc tai rối bù của chàng thanh niên đã bị cạo nhẵn thín. Và giọng thiền sư Dai-so-kim trầm ấm, mồn một bên tai:

- Chỉ cần có hai điều, Ka-jo-ju con hỡi ! Ấy là sự tập trung tâm ý hoàn toàn và lòng từ bi. Hai yếu tố quan trọng của Đạo Giác ngộ. Thế mà hôm nay con học được cả hai. Con đã tập trung tâm ý có hiệu quả vào ván cờ. Sau đó vì lòng từ bi mà con nguyện hi sinh mạng sống cua mình. Thôi, hãy ở lại đây, áp dụng kỷ luật của chúng ta trong tinh thần đó. Giải thoát sẽ là kết quả đương nhiên như mũi tên đến tiêu điểm theo đường nhắm trúng.

Thanh niên Ka-jo-ju đưa tay sờ lên đầu mình, chàng mỉm cười.

dung9610
30-12-2010, 8:32 pm
Ui,
Bác Atmin "xuất chiêu" bài hay quá!:):):)


http://www.skinbase.org/files/archive/shots/271/Happy_New_Year_by_clwoods.jpg

cheznous
31-12-2010, 4:32 pm
* Những bài giáo huấn của Thầy Lương Minh Đáng

Có hằng loạt những bài thi thơ theo thể văn vần gọi là “cơ bút” được gởi đi tới những anh chị em có địa chỉ điện thư (email), chắc chắn tin thư đã đến với tất cả anh chị em Nhân điện khắp năm Châu. Cái nhận xét đầu tiên về những cơ bút: từ hình thức đến nội dung hoàn toàn không có gì là ý của Thầy.

Dù rằng có người học viên nào đó của Thầy có tâm lành, tâm thật trung thực … Nhưng dựa vào một người nào đó để tâm sự vài giãi bày thì chắc chắn không phải Thầy Lương Minh Đáng. {Tôi hoàn toàn không có mục đích chỉ trích và phê phán} Có những điểm cần lưu ý, vì lúc Thầy còn tại thế Thầy xác định và nhấn mạnh rất rõ ràng:

§ Sự hiểu biết và ý thức trong nội dung cơ bút có tần năng lượng thấp, chưa đạt trình độ minh triết, có quá nhiều ràng buộc. Hầu hết điển nhập vào cơ bút có băng tần năng lượng từ cạnh luân xa 3 đến luân xa 5, người nhận điển vì ảnh hưởng của phong tục tập quán và tôn giáo.

Nên cơ bút không còn chính xác nữa. Mặt khác người nhận cơ bút cũng tự giới thiệu mình là người của thượng thiên chọn, một nhân vật ưu tú tốt lành. {thượng thiên không chọn bất cứ người nào để thay mặt ngài}

§ Bài giảng của Thầy đơn sơ đơn giản, không dư mà không thiếu, đủ để cho chúng ta nghiên cứu học hỏi.

Đối với cá nhân của Thầy là bài học tự do cho chúng ta: Trên thế gian này không ai ràng buộc chúng ta, chỉ có chúng ta ràng buộc chúng ta. Chúng ta bị ràng buộc vì chúng ta bị gạt. Thầy nói thì mọi người không nghe, Thầy sống với một con người bình thường nhất, không bao giờ che dấu chuyện riêng của mình, mà còn cố muốn cho mọi người biết. Dù Thầy có bao nhiêu vợ đi nữa đối với Thượng đế Thầy không có tội, nhưng thế gian kết tội Thầy quá nhiều.

Họ kết tội vì đầu óc quá hẹp hòi ích kỷ, dùng mọi tư tưởng tôn giáo và học thuyết để phê bình phê phán Thầy của mình. Còn nhân loại thì kết tội người có công đóng góp giúp nhân loại {xưa nay là vậy}. Cho nên nội dung cơ bút hoàn toàn mâu thuẫn với con người và tư tưởng của Thầy.

§ Người giúp nhân loại là người có tư tưởng đơn giản nhất, nhưng không ai biết đến họ, họ thật sự vô danh. Qua những bài cơ bút, dường như phật thánh tiên đang dàn xếp một cuộc “thánh chiến”. Thần thánh tiên phật còn phân chia phê phán và xáo trộn, thì nhân loại ở thế gian làm sao khỏi xáo trộn.

Linh hồn Thầy là một linh hồn xa lạ từ ngoài vũ trụ, có nghĩa Thầy xác định rõ ràng quan điểm của Thầy: Linh hồn Thầy không có trong ngôn ngữ của loài người – Không có ảnh hưởng phong tục tập quán của người đời. Tất cả bài giảng của Thầy là tháo gỡ mọi ràng buộc đã làm cho con người không tiến hoá được. Con người không thể tiến hoá được khi tư tưởng chưa hoàn toàn tự do.

Không phải Thầy Đáng đã xác định rõ ràng với học viên của Thầy trong Lớp 13++ rồi sao? {Thầy đã truyền trao cho mỗi học viên điển năng não bộ người tiền sử - Não bộ của Thượng đế. Anh chị em không cần phải cầu nguyện, của anh chị em thì mang ra sử dụng khi cần. Thầy (Thượng đế) đã đánh thức chúng ta, từ lâu rồi chúng ta không sử dụng được quyền tự do của mình} Cái tốt đẹp nhất, cái tinh tinh hoa nhất của Thầy là của chỗ này.

Nếu học viên của Thầy thật sự minh triết và giác ngộ thì đi học thêm cái gì nữa. Sau Thầy không còn gì để học. Mỗi con người là mỗi bông hoa đẹp - mỗi con người là một sáng tạo tinh vi tinh hoa kỳ diệu - Mỗi con người đều có cái thế giới riêng diệu kỳ của họ, mà họ không cần phải học với ai. Đây chính là chỗ huyền diệu, huyền vi của Tạo Hoá.

§ Một điều kỳ lạ nữa là Thầy luôn luôn từ chối và minh định rõ ràng “Linh hồn Thầy không là ai cả, mà là một linh hồn xa lạ từ ngoài vũ trụ lần đầu tiên đến quả địa cầu.” Nhưng anh chị em chúng ta lại áp đặt cho Thầy là Phật, là Chúa, là Đấng tối cao này, là Đấng tối cao nọ …

Cuối cùng anh chị em chúng ta cũng đưa Nhân điện vào hình thức và khuôn khổ của một tôn giáo. Rốt ráo anh chị em cũng phong cho Thầy là Phật này Phật nọ … chẳng khác nào anh chị em công bố thương hiệu Lương Minh Đáng quản lý ngành Năng Lượng Vũ Trụ.

Người giúp được nhân loại là Người không ai biết đến, Người thật sự vô danh. Người Thượng đế chọn chỉ có danh và quyền lực mà không giúp được ai.

§ Dù ai làm đúng – làm sai, làm tốt – làm xấu, làm thiện – làm ác … Thầy không bao giờ phán xét hành động của ai, và Thầy cũng không khuyên hãy làm theo ý của Thầy. Một ngày trước khi Thầy ra đi Thầy có nói một câu: “Thầy biết Thầy gây xáo trộn rất nhiều cho anh chị em, nhưng mục đích của Thầy là giúp cho anh chị em tiến hoá!” Cho nên Thầy không bao giờ phê phán, phán xét việc anh chị em mỡ lớp dạy, lấy học phí hay không lấy học phí.

Anh chị em mở lớp cao lớp thấp không quan trọng, điều quan trọng là anh chị em biết “anh chị em nói cái gì không?”. Thầy có nhắc nhỡ: “Cái lỗi lầm lớn nhất của con người là chận đứng sự tiến hoá của người khác.”



Đạt được minh triết và giác ngộ không phải là một sự ngẫu nhiên nào đó mà do quá trình nghiên cứu và tu học của nhiều đời nhiều kiếp. Vũ trụ là kho tàng hiểu biết và ý thức vô biên vô tận, nó đến với con người dường như mong manh nhẹ nhàng vô danh, mà tràn ngập mãnh liệt không ngừng nghỉ;

Mở tâm mở trí và tỉnh lặng sẽ học được bài học từ vũ trụ bài học của Tạo Hoá. Bài học của vũ trụ đơn sơ đơn giản nhưng có huyền lực huyền năng (chữ huyền này có ý nghĩa màu đen của cõi không không vô tận, huyền lực chỉ quyền lực siêu nhiên tự nhiên) vô biên. Bài học mà không ai có thể dạy cho ai được.

Thầy đã đi, thân xác Thầy đã biến thành tro bụi, linh hồn Thầy trở lại cái MỘT mà cái một có băng tần tổng hợp {băng tần vũ trụ} từ không đến vô cực, từ thấp nhất đến cao nhất. Đừng nghĩ rằng băng tần của Thầy ở mức độ cao nhất {từ luân xa 6 trở lên …}. Đối với Thầy tư tưởng phải đạt đến mức độ hoàn toàn tự do mới có thể tiến đến được sự minh triết và giác ngộ.

Nghỉ sâu xa hơn: Thầy là người đã hoàn toàn minh triết giác ngộ, Thầy hoàn toàn tự do và Thầy cũng rất tôn trọng quyền tự do của mỗi người. Những người phát triển được tiềm năng khả năng của mình họ đã bước ra ngoài khỏi vùng năng lượng có nhiều xáo trộn. Mô hình đại KTT là mã số vũ trụ lộn ngược (inverse universe): Ba mặt, mỗi mặt có một lỗ hổng, có ý nghĩa là dù mình ở góc độ nào cũng phải nhìn lại linh hồn và thân xác của mình.

Mình học hỏi nhiều quá, dù có tuyệt vời thế nào đi nữa cũng của người khác. Dù là phật-thánh-tiên thì mình là chính; Nếu là thiên-địa-nhân mình cũng phải độc lập tự do. Mình mất tự do vì mình theo học của người khác, mình không ý thức được tự do vì mình quên mình. Quay trở về mình là buông xuống tất cả, nhưng mình sẽ có tất cả.

§ Trên thế gian không có ai là thầy của Thầy. Chỉ có một người Thầy tin chính là Thầy (cho nên cơ bút là thiệt của riêng một học viên nào đó nhưng không phải của Thầy). Thầy ra đi để lại cho chúng ta một bài học cao quý: Đó là vì sự minh triết và giác ngộ cho học trò Thầy.

§ Chỉ còn một tuần nữa là kỷ niệm ngày Thầy ra đi. Muốn biết Thầy ở đâu thì phải làm cho tâm hồn mình thật đơn giản, tĩnh lặng và yêu thương. (Năng lượng của đấng cao cả sẽ đến với mình trong sự trôi chảy nhẹ nhàng tỉnh lặng và vô danh. Nên chúng ta đừng đặt nặng vấn đề ở luân xa 7 có cảm giác hay không cảm giác.) Đây là món quà dâng lên Thầy trong ngày kỷ niệm của Thầy.

Trích: inverse universe (http://returntozero1221.com/)

thien thu 2
31-12-2010, 9:44 pm
Chúc mừng năm mới tất cả các bạn trong và ngoài ngành nhân điện!

Bài trên của Chez Nous ... đúng là tinh thần " Ngôi Nhà" của chúng ta! nhưng ngày đầu năm, nên chăng chúng ta ... tản mạn thêm tí nữa nhé:

1. THẦY ĐÁNG là một linh hồn mới đến quả địa cầu lần đầu:

ngụ ý chính là không bị "phơi nhiễm" bởi tất cả tư tưởng, triết thuyết mọi thứ, giáo lý mọi tôn giáo hiện hữu cho đến hiện tại!
Đó cũng có thể hiểu là một " tiểu linh quang" mới của Thượng Thiên ( nói theo thầy Đáng là từ 200.000 năm trở lại đây) hay cũng có thể là cái "tánh thấy biết" thường hằng của CON NGƯỜI mà sau thời gian của Phật Thích Ca, người ta tạm gọi là Phật tánh, rồi Tánh Chúa, Thánh Linh...vv..

2. Còn " Vũ trụ lộn ngược" cũng có thể ngụ ý là " con người mới", muốn tháo bỏ các ... phong tục, tập quán, và các giáo lý tôn giáo thì phải "học ngược" từ từ gở bỏ cái mớ bòng bong cố chấp, cái kiến thức tích lủy, cái kho kinh nghiệm chứa trong cái đầu ... kinh khủng của mỗi người thì mới có được.... bộ não "người tiền sử"!

Dùng cái đầu quan sát chính cuộc sống đáng yêu để quay ngược cái lò xo trong đầu để nó giản ra, chấp nhận cái mới, cái sáng tạo của vũ trụ muôn loài, thăng hoa dần dần cái tánh thấy biết nhiệm mầu thì mới có thể tiến dần đến ngưỡng cửa... Minh triết, thò được cái dầu rổng rang vào Không Gian Sáng Tạo của Tạo Hóa Vô Tình, mới bắt đầu chiêm ngưỡng được ... chút ít tỉnh thức của kiếp con người!

Không chịu học ngược mà cứ ... ca cẩm "tính không", trở về Zerô, hoặc đến Bồ Đề Đạo Tràng xuông tóc, tọa thiền thì cho đến hết kiếp người cũng chỉ có thể đóng vai nhân vật Thiện Hữu của "câu chuyện một dòng sông" ( tức suốt đời theo học Phật mà không ... gặp Phật!)

Năm mới cần một cái đầu mới!

Thiên thu

cheznous
01-01-2011, 3:31 am
Không chịu học ngược mà cứ ... ca cẩm "tính không", trở về Zerô, hoặc đến Bồ Đề Đạo Tràng xuông tóc, tọa thiền thì cho đến hết kiếp người cũng chỉ có thể đóng vai nhân vật Thiện Hữu của "câu chuyện một dòng sông" ( tức suốt đời theo học Phật mà không ... gặp Phật!)



Cheznous tâm đắc câu "suốt đời theo học Phật mà không ... gặp Phật" có nhiều người vô tình oái oăm .. vì hướng đi một đường lại hành một nẽo ngộ nhận nhưng lại không hay biết. Họ đang hành nghịch thì nghở là thuận, nếu kẻ sáng mà nhận định họ khác đi .. thì họ xem kẻ sáng như là nghịch người lẩm ca lẩm cẩm dễ thường xem những lý sáng là nghịch .. Do kẻ sáng thật sự giác ngộ nên đã biết nhìn bằng một cái nhìn khác đi ... hii cho nên nghịch lý là vây,

Có người theo học Phật và muốn gặp Phât theo một lý hành ngộ nhận gì đó .. kẻ sáng mách rằng nếu người lẩm cẩm hành như thế thì sẽ không bao giờ gặp Phât .. nhưng tiếc là những sự mù quáng có hệ thống của kẻ lẩm cẩm cứ thế mà làm cùng cái hành trang nặng trỉu của họ .. đáng thương ..đáng thương ..

cheznous góp một bài này xem thử nha.

HƠN-TÂM, ÐẠO-TÂM THUẬN NGHỊCH LUẬN

Thánh-Nhơn dạy bỏ hết lòng nhơn-dục thì đường Thiên-lý mới lộ ra kêu rằng:

"Nhơn-dục tịnh tận, thiên-lý lưu hành".

Người bỏ đường Thiên-lý, ưa mến theo đường nhơn-dục, lưu-luyến hồng trần trái lẽ đạo, thì phải tiêu tán sa đọa. Nên có câu: "Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong". Thuận là giữ theo lẽ Trời nơi đường Thiên-lý thì vẫn còn; nghịch là ưa mến theo lòng nhơn-dục, thì phải nhiễm khí trược tiêu tan lần mà sa đọa.

Song Thánh, Phật, Phàm tại đó mà chia hai lẽ thuận nghịch cũng một cái tâm người, phân ra nhơn-tâm đạo-tâm.

Hễ sanh nơi hình khí tư-dục là nhơn-tâm, sanh nơi tánh mạng chánh lý là đạo-tâm. Vì bởi nhơn-tâm hưng thạnh ngày ngày tiệm tấn, thì đạo-tâm ngày ngày phải tiêu mà đọa, làm sao thành đặng. Sách có câu: "Phi mao tùng thử đắc, tố Phật dã do tha". Nghĩa là làm loài mang lông đội sừng cũng tại tâm, còn làm Tiên Phật cũng bởi tại tâm.

Nếu bỏ đường tư-dục, noi theo đường Thiên-lý, tu-hành theo chỗ chỉ ư chí-thiện, đặng phản hồi về khí tự nhiên thì trở nên cũng như Thánh, Tiên, Phật.

Nên có câu: "Nhơn nhơn khả dĩ vi Thánh Hiền, nhơn nhơn khả dĩ vi Tiên Phật, chỉ tại hữu chí, vô chí chi nhĩ". Nghĩa là người người đều làm đặng Thánh Hiền, làm Tiên Phật đặng, chỉ yếu tại có chí cùng không chí, kẻ có chí chẳng luận xuất gia hay là tại gia. Tại gia giữ y theo Tam-Qui, Ngũ-Giới tầm chơn-sư học tâm-pháp diệu-lý của Phật, Thánh, Tiên, kiếm nơi tịnh địa mà tu-hành, cho thấy ấn-chứng như mấy lời ứng nghiệm nơi trong kinh sách thì cũng đặng, lựa là xuất gia vào chùa hay là lên núi mới gọi là tu.

Nếu ở chùa hay là trên núi mà tâm không tịnh, còn mơ vọng hồng trần, làm sao thành đặng.

Nên kinh Bửu-Ðàn rằng: "Tại tự bất tu như Tây-Phương nhơn tâm ác, tại gia năng tu, Tây-Phương nhơn tâm thiện".

Nếu ở chỗ trần mà đừng cho nhiễm, mới cách vật, ở trược địa đừng nhiễm trược, mới gọi quân-tử. Có câu rằng: "Bạch ngọc vi ư ô ê, bất năng thảm thấp kỳ sắc, quân-tử xử ư trược địa, bất năng nhiễm loạn kỳ tâm". Nghĩa là: Ngọc ở dưới bùn mà không cho khờn lấm, người quân-tử ở chỗ trược địa, chẳng cho nhiễm loạn nơi tâm.

Nếu ở chùa hay là trên núi mà tâm không tịnh, còn mơ vọng hồng trần, mơ thấy Phật làm sao thành đặng... sẽ không bao giờ gặp Phật

Năm mới cần một cái đầu mới ...Tuyệt tuyệt

http://vnexpress.net/Files/Subject/3B/A1/85/7E/QuayCop.gif

cheznous

cheznous
01-01-2011, 10:47 am
Thái Lan Noel 2010 [Trả lời]

Tôi sung sướng trở về từ Thái Lan sau khi đã học xong lớp 21 ngành Nhân điện từ cô Teresa Thu Thủy. Một chuyển động kỳ diệu từ linh hồn, thể xác và trí tuệ đang xảy ra với tôi. Và tôi tự nhủ mình phải làm được cái gì đó (nhỏ thôi) nhưng có ích cho nhân loại.
Con người ta đang tiếp cận quá nhiều đau khổ nhưng lại không biết cách thoát ra. Cuộc đời tôi cũng tròng trành như con thuyền luôn đối mặt với sóng dữ. Vậy mà phút giây được cô Thủy ôm vào lòng, sao mà cảm giác ấy bình yên đến thế! Cho đến ngày trút hơi thở cuối cùng tôi cũng không quên cảm giác dịu dàng đó.


Ước gì khoảnh khắc trong vòng tay Cô


http://www.vietcatholicsydney.net/images/picture/17_315_DucMeDiuHien.jpg


Tận thế xảy đến cho rồi. Tôi sẽ vĩnh cửu hưởng được sự ấm êm không chút lo âu, sợ hãi này. Như vậy tôi cũng ích kỷ phải không? Thôi tôi đành thì thầm với anh chị em đồng môn rằng: "Tôi hạnh phúc không bút nào tả khi nép đầu bên lòng cô Thủy". Noel 2010 tại Thái Lan, tôi sẽ không bao giờ quên.
Viết bởi Đỗ Thị Thanh Hương @ 19:35, 2010-12-31

Trích: http://ue.vnweblogs.com/post/18513/238545#1276358


http://www.dongcong.net/MeMaria/HinhAnhDucMe/Picture/Queen-of-RosaryL.jpg

VoDanh
02-01-2011, 6:44 pm
Bộ phim về Cuộc đời Đức Phật do kênh truyền hình BBC trình bày:


I6S3S75HK-k

http://www.youtube.com/watch?v=I6S3S75HK-k



VoDanh

gunoeros
02-01-2011, 11:37 pm
hix, ghen với bác cheznous quá, huhu. Em mún đi học lớp 21 lắm mà ko được...

VoDanh
03-01-2011, 10:37 am
Đức ĐẠT-LAI LẠT-MA
Frédérique Hatier biên soạn
Hoang Phong chuyển ngữ

Chương VI
Cõi Ta-bà : Sống, Chết và Tái sinh

Sân khấu của vô thường

Tái sinh không phải là một cách tránh né cái chết. Trái lại, mỗi chúng ta trong từng ngày nhích lại gần hơn với cái chết, tương tợ như những con vật bị đưa đến lò sát sinh. Trong vũ trụ này, bất cứ gì đều bị chi phối bởi quy luật vô thường và sẽ tan rã. Ngài Đạt-lai Lạt-ma thứ VII có nói như sau : "Những người còn trẻ, cường tráng và khoẻ mạnh nhưng chết sớm chính là những vị thầy thuyết giảng cho chúng ta về vô thường. Vô thường tương tợ như một sân khấu, sau một màn trình diễn các diễn viên trở vào hậu trường thay y phục và sau đó lại trở ra ".

Tái sinh làm người là một sự quý hiếm

Hãy tưởng tượng một cái ách [dùng cho bò kéo cày] bằng gỗ nạm vàng trôi dạt trong một đại dương mênh mông. Có một con rùa già mù lòa sống trong đáy đại dương, cứ cách một trăm năm lại nổi lên mặt nước để thở một lần. Vậy thì cơ may khiến con rùa chui đầu vào cái ách bằng vàng ấy là bao nhiêu? Đức Phật giảng rằng được tái sinh dưới thể dạng con người cũng hiếm hoi như thế. [cái ách nạm vàng thật quý giá tượng trưng cho sự tái sinh làm người, thế nhưng đồng thời nó cũng tượng trưng cho sự trói buộc và nhọc nhằn].


Ảo giác khiến ta tưởng lầm sợi giây thừng là con rắn

Hãy lấy thí dụ một cuộn giây thừng vào lúc nhá nhem tối, ta tưởng lầm đấy là một con rắn. Sự nhận biết sai lầm cho rằng sợi giây thừng là con rắn gây ra trong tâm thức một số phản ứng chẳng hạn như sự sợ hãi, sợ hãi làm phát sinh ra hành động thí dụ như tông cửa phóng chạy hoặc tìm cách giết con rắn. Tất cả các hành động ấy xảy ra chỉ vì một sự lầm lẫn nhỏ nhặt. Cũng thế chúng ta tưởng lầm thân xác và tâm thức của mình hàm chứa một cái tôi nào đó, từ đấy sinh ra mọi thứ sai lầm khác chẳng hạn như dục vọng, giận dữ. Từ thái độ ích kỷ tức bám víu vào một cái tôi ta phân biệt mình với người khác.

Tánh không

Con người sinh ra và chết đi. Khổ đau, hạnh phúc đến với họ rồi cũng ra đi. Các biến đổi ấy hiện ra và biến mất. Nếu khổ đau và phúc hạnh đúng là những sự kiện độc lập chúng sẽ bất biến, tức không đổi thay. Nếu phúc hạnh, khổ đau và ba thứ nọc độc là bám víu, hận thù và vô minh không lệ thuộc vào những nguyên nhân bên ngoài, chúng sẽ giữ nguyên như thế không hề biến đổi. Thế nhưng [không đúng như thế] tất cả các hiện tượng ấy chỉ có thể quan niệm được bằng thể dạng tánh không và vô ngã của chúng. Do đó tất cả mọi hiện tượng đều được tạo dựng bởi thực thể trống không, [nói cách khác] sự tạo dựng đó chỉ là các biểu tượng hay cách hiển hiện của thực thể trống không.

Tánh không và con số 0

Tánh không tương quan với sự trống không, sự vắng bóng hoàn toàn của bất cứ một sự hiện hữu nội tại nào. Tôi thường giải thích tánh không tương tợ như con số không (0). Con số 0 có nghĩa là không có gì cả, thế nhưng nếu không có nó ta không thể tính toán gì được. Vì thế con số 0 là một thứ gì đó, đồng thời cũng không có gì cả. Sự trống không cũng tương tợ như thế. Trống không là trống không, thế nhưng đồng thời nó cũng là nền móng của tất cả.

http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-98_4-8588_5-50_6-1_17-25_14-1_15-1/

VoDanh

ZeroKhongVo
03-01-2011, 4:06 pm
Thái Lan Noel 2010 [Trả lời]

Tôi sung sướng trở về từ Thái Lan sau khi đã học xong lớp 21 ngành Nhân điện từ cô Teresa Thu Thủy. Một chuyển động kỳ diệu từ linh hồn, thể xác và trí tuệ đang xảy ra với tôi. Và tôi tự nhủ mình phải làm được cái gì đó (nhỏ thôi) nhưng có ích cho nhân loại.
Con người ta đang tiếp cận quá nhiều đau khổ nhưng lại không biết cách thoát ra. Cuộc đời tôi cũng tròng trành như con thuyền luôn đối mặt với sóng dữ. Vậy mà phút giây được cô Thủy ôm vào lòng, sao mà cảm giác ấy bình yên đến thế! Cho đến ngày trút hơi thở cuối cùng tôi cũng không quên cảm giác dịu dàng đó.



Tôi đã ở Thái Lan suốt thời gian đó và cả cái đêm Noel gì đó, mà nào thấy cô Thủy ôm ai vào lòng. Chỉ toàn thấy bà con ai cũng chực nhảy xổ vào ôm lấy ôm để người cô làm vất vả các toán Security phải làm hàng rào bảo vệ cô.
Đùa chút cho vui thôi bạn Hương chớ giận nhé. cùng xả nào. Aa....a........a......

liem0962
03-01-2011, 9:42 pm
HE.HE CHÀO BẠN GUN:NẾU BẠN HẰNG MONG ƯỚC LÀ CÓ THỂ NIỀM MONG ĐÓ TRỎ THÀNH SỰ THẬT.

BẠN THANH HƯƠNG MỞ ĐỀ TÀI VÔ TIỀN KHOÁN HẬU.

BẠN CHEZNOUS LẮP DÂY CHÁY CHẬM.

BẠN Zero Không Vô ĐỐT.......ẦM (http://www.bing.com/videos/search?q=youtube+phao+hoa&sk=&mid=9AF2B2F6BD0897A4E3939AF2B2F6BD0897A4E393&FORM=LKVR#)!

thien thu 2
03-01-2011, 11:04 pm
Đầu năm nói chuyện mới !

1. Tâm sự với người mở ra diễn đàn nầy:
Muôn vàn cảm ơn người đã cho mình cơ hội thảo luận với diễn đàn, với những người đồng cảm về những ý nghĩ tản mạn về tâm linh, về cuộc đời, về những vị thầy tâm linh đã ra đi...

2. Tâm sự với những bạn tự cho mình vẫn là những kẻ lang thang tìm sự tỉnh thức rồi cũng chỉ để lại đời một mớ sách vở , có thể là best seller vì nhân loại quá khát khau tư duy mới, sẳn sàng ... đọc ngấu nghiến những chuyện khác hơn là những kinh sách từ ngàn xưa, từ Khrisnamurti đến Osho, Eckhard Tolle... Dalai Lama, nhưng rồi sau nữa là gì? Có một loại "tôn giáo" nào lợi ích cho sự phát triển của dân chúng để phồn vinh
hay cả nước đều là nghi ngút khói hương thờ cúng, chùa chiền, nhà nguyện, thánh đường, lễ hội .... sống để chờ ngày tận thế 2012? Rồi sẽ có những vị thầy tâm linh ... nổi lên đình dám....
Ước gì tôi có dịp đi Ấn độ xem sách chợ trời tâm linh người ta viết ra sao mà ... HẤP DẪN THẾ ?

3. Các bạn đang nói về đức Phật dạy con thế nào ư ? Cả cuộc đời đức Phật thì người ta cũng chỉ kể lại "theo truyền thuyết" thì ai ghi chép lại việc Phật dạy con ra sao?
Những tư tưởng nghi vấn nầy chắc chắn sẽ bị cho là ... "vô thần", là "Tào Tháo"!

Tôi xin lỗi phải mượn "khu vườn" nầy để giải bày... tâm sự đầu năm! Chắc tôi sẽ trở về ... tuyệt tình cốc...thưởng thức hoa tím bằng lăng đang nở rộ chờ Xuân!

Thiên thu

thien thu 2
15-01-2011, 3:00 am
Tản mạn về việc Phật dạy Con như thế nào?!

1. Đức Phật, sau khi ngộ được TÂM VÔ LẬU thì vội tìm ngay 5 anh em Kiều Trần Như để ... chuyển Pháp luân ( nói theo văn chương tâm linh bác học) : thật ra là để giải tỏa ức chế giúp 5 người nầy về việc cho là đức Cồ Đàm bỏ đạo ( đạo nhịn đói đầy đọa xác thân để ... hành xác theo Bà La Môn giáo (?): để thông báo là xác thân giống như con ngựa to cở đi tìm... chân lý; nó mà ngũm củ tỏi là TA cũng đi luôn, khỏi "ngộ" cái gì cả!

Và cố nhiên đức Cồ Đàm cũng sẽ không về cung Vua Cha để tránh cơ hội ... phải vui đùa cùng cung nữ; thì làm sao Ngài gặp được La Hầu La ( lúc đo mấy tuổi...? ) để giảng đạo!

Xin quý vị khai thị giúp...


Thiên thu
( tôi muốn trốn qua hành tinh nào... chỉ do luật tự nhiên của Tạo Hóa Vô Tình chi phối .. khỏi phải tản mạn mãi về hệ tư duy của Con người!= nhưng vẫn đeo đẳng cái Tánh Thấy Biết Hữu Tình!)

gianguyen13
15-01-2011, 11:34 am
Tôi đã ở Thái Lan suốt thời gian đó và cả cái đêm Noel gì đó, mà nào thấy cô Thủy ôm ai vào lòng. Chỉ toàn thấy bà con ai cũng chực nhảy xổ vào ôm lấy ôm để người cô làm vất vả các toán Security phải làm hàng rào bảo vệ cô.
Đùa chút cho vui thôi bạn Hương chớ giận nhé. cùng xả nào. Aa....a........a......

Bác ở Thailand suốt nhưng lại lỡ mất một buổi Cô gặp gỡ những học viên về sớm sau buổi học rồi,thấy bạn Hương được Cô ôm vào lòng thật xúc động...

tuanvu_quynh1949
16-01-2011, 8:31 am
Thiên thu
( tôi muốn trốn qua hành tinh nào... chỉ do luật tự nhiên của Tạo Hóa Vô Tình chi phối .. khỏi phải tản mạn mãi về hệ tư duy của Con người!= nhưng vẫn đeo đẳng cái Tánh Thấy Biết Hữu Tình!)
..............
Tại cái Tánh Thấy BiêT Hữu Tinh chưa qua được cái đầu và tầm nhìn hay bác vẫn muốn rong chơi tuổi già ở cái hành tinh củ rích này >
Thương bác lắm.

thien-y801
16-01-2011, 8:59 pm
À a......à......à......(3 cái đủ rùi hé , nào cùng nhau.... à ...các bạn 21 Thái Lan...kaka..) :) :D

Khách Trọ
17-01-2011, 11:18 pm
Huynh Xuân Lộc MEL này xem bộ hâm mộ và bị lậm các học thuyết PLĐP quá nhở? Huynh ra rã giảng giải đủ thứ về Phật pháp và bảo người ta không hiểu tí gì về Phật Pháp nhưng Huynh có xem lại trình độ Phật Pháp của Huynh chưa? Hay là Huynh chỉ học Phật qua một mớ triết lý nghe cũng lọt lỗ tai của Sư Phụ PLĐP? Tôi thấy huynh cũng chẳng khác gì mấy ông học trò pháp luân khác đi đâu cũng thao thao giảng dạy nhưng thật ra chỉ là nhai đi nhai lại mấy lời sư phụ mà thôi.

Tôi còn nhờ trên diễn đàn này đã có người viết bài để phản biện về học thuyết PLC, bác chịu khó tìm đọc đi! Nếu bác bảo trình độ Phật pháp bác thâm sâu, người khác chả hiểu gì thì vào đó mà phản biện để bảo vệ Công Pháp của bác nhé.

Tôi mới dò tìm lại đây, nếu bác muốn thuyết phục tôi tin vào học thuyết PLC thì vào đó để phản biện đi nhé! Phản biện thật thuyết phục và hùng hồn vào!

http://www.ue-global.com/showthread.php?t=1069

Chúc may mắn,
Khách Trọ

Happy
18-01-2011, 5:25 pm
Nói chuyện ngoài lề chút.
Hihi vui quá, nhớ khi coi TLBát Bộ, Vương Ngữ Yên thấy người ta chơi chiêu gì thì biết tông biết phái ngay.
Còn trong giới tâm linh này, khỏi cần thượng thừa như VNY, khi nghe nói ta nói vài câu là đã biết họ thuộc môn pháp nào liền, hihi vui thiệt.

Mình thì mình thích...vô đạo, vô môn, vô phái. Không dùng đặc ngữ của một pháp nào hết, kể cả chánh thống chánh pháp chánh đạo như Phật pháp, khi "ngoại giao" mình cũng chỉ biết vài món cơ bản như "nghiệp", "luân hồi", "quả báo" này nọ thôi, còn đi sâu vô nữa thì xin kiếu.
Khi nghe tiền bối nào nói về đạo bằng ngôn ngữ đời cảm thấy rất tự nhiên và thoải mái.

Và quan trọng hơn nữa, "vô đạo" để không phải sân si khi pháp môn "của mình" bị chọt hôhô.

thien thu 2
18-01-2011, 7:48 pm
... Thiên thu thường hay ... lạm dụng 2 chữ "tản mạn" để:

1. tìm "đồng chí tâm linh" mới và nghe "cố nhân tri kỷ" nghĩ về mình mà không muốn mình bị hiểu lầm quá..."ta đây" hoặc cố ý "chọt" pháp khác!

2. rất hiểu ý Luciola khi sáng tác... mơ về 1 hành tinh mới, và mình vốn muốn tiết lộ "chiêu" đặc biệt học ...lóm của "Tế Điên" nên mới dùng " ẩn dụ" về ý tưởng "mới", nghe rất hoang đường và không vô tình tự "khoe" đã bị quá lậm trong các truyện chưỡng Kim Dung, nên ... nổi máu phá chấp của Bât giới Hòa thương và ... "điên hùa" theo Tế Điên - nhân vật Tế Điên Hòa thượng cũng là hư cấu nhưng có mặt trong ... văn hóa tâm linh bác học!)

Cái độc chiêu trong "ẩn dụ thầy Đáng" về "bộ não người tiền sử" ( theo thiển ý và nếu tôi không lầm) thì thầy Đáng chưa rao giảng "kỹ thuật tẩy não" người hành tinh cũ cách nào để thành người hành tinh mới ( hay nói ... êm tai hơn là NHỮNG kỹ thuật buông bỏ tập quán tôn giáo đã ...
ô nhiểm vào bô đầu) đế có cái đầu thật sự tự do.

Thiên thu tôi... đồng cảm (?) với Luciola về "giấc mơ có một hành tinh" như thế để sống và hưởng thụ cho hết kiếp nầy:

a) đời sống hiện tại= ta là người hành tinh cũ ( rít) nên PHẢI HÀNH những pháp của hành tinh nầy; ví dụ muốn tỏ tình với ai thì phải... tiếp cận thực tế và diễn đạt " anh yêu em" ra sao để người ấy biết và ... ủng hộ nhu cầu ( của hành tinh nầy);

B) Còn bây giờ ... đã ngộ được "kỹ thuật tầm nhìn" nên PHẢI XEM MÌNH LÀ NGƯỜI CỦA HÀNH TINH KHÁC, đóng vai NGƯỜI của hành tinh địa cầu ( NÊN PHẢI dụng pháp địa cầu như ví dụ trên) mà ...TÂM thì phải luôn nhớ mình là NGƯỜI HÀNH TINH KHÁC, mỗi lần HẾT ĐÓNG VAI THÌ PHẢI TRẢ ÁO MẢO lại, mới có thể ... bình an chào đạo diễn rút lui vào sau cánh gà .... về "hành tinh gốc" thì mới buông bỏ được các thứ rác tâm linh!

Do vậy đành phải loạn ngôn lãi nhãi mãi "công án thiền mà gặp Phật thì phải chém Phật" ( hình ảnh Phật là đối tượng giúp ta tìm đến thiền, "ngộ" pháp) mà khi đã "giác" rồi thì hình ảnh Phật sẽ là bóng Ma nếu ta không chịu mài gươm trí huệ cắt đứt ,buông bỏ hết thì.... suốt kiếp nầy vẫn là kẻ lang thang tìm thầy, tìm pháp ... đến hơi thở cuối cùng, không gặp Phật của chính mình ( nếu cứ tiếp tục "sợ" và ca cẩm trong cơn mê mộng du về cái pháp và ông thầy!)

Nỗi buồn tuổi hoàng hôn của thiên thu tôi vốn muốn chuyển tải ý nầy , chớ chẳng phải sợ chết!

Xin chào các bạn diễn đàn, cố nhân "tri kỷ" vì mình sẽ PHẢI trở lại chuyện ....trốn phố lên ngàn sau chuyến miên du với những đề tài lấy ý bài thơ "lơ lửng"của Nguyễn Bính:

... thư viết đừng xong, thuyền xuôi chớ đổ,
để nghìn xưa đẹp đến nghìn sau.

Và ...bản dịch thơ d'Arvers của Xuân Diệu (?):
Mon a^me a son secret, ma vie a son myste`re
Un amour eternel en un moment concu....

Lòng ta chôn một khối tình,
tình trong giây phút mà thành...

.... Thiên thu

( về lại tuyệt tình cốc, "khung trời của HAI TA", thì phải .... cấm khẩu, HÀNH PHÁP VÔ NGÔN nên CHỈ nói chuyện với....đầu gối), KHÔNG TẬP NÓI CHUYỆN VỚI CHÍNH MÌNH trên diễn đàn nầy nữa.

Muôn vàn tạ lỗi: Thiên thu tôi phải đóng vai "người hành tinh cũ"... rít!!!
( "pháp" của hành tinh mới không có văn hóa ứng xử xin lỗi!)