UE Global

UE Global (http://www.ue-global.com/forums.php)
-   Tâm linh (http://www.ue-global.com/forumdisplay.php?f=18)
-   -   Ánh sáng của tâm (http://www.ue-global.com/showthread.php?t=1121)

Luciola 11-02-2010 7:54 pm

Ánh sáng của tâm
 
Trong môn Nhân Điện, thầy Đáng để lại cho học trò các công thức thực hành thanh lọc tâm và thân thông qua việc truyền điện. Những gì thầy để lại đều rất ngắn gọn nhưng đầy đủ ý nghĩa, như thầy vẫn thường nói vậy trong các lớp học. Có lần Luciola đã viết trong một bài trước đây, để dòng điên được tinh khiết, mình cần phải triệt để thanh lọc thân tâm để ngày càng hoàn thiện hơn, để có thể thực hành bài học thứ 101 thầy Đáng truyền dạy được tốt nhất. Lần này, xin giới thiệu một bài giảng giúp người học tâm linh hiểu thêm về cái đầu và bản ngã của mình, hiểu thêm về não bộ người tiền sử của chúng ta, nhờ đó sẽ có thêm chút tiến bộ tùy duyên. Thân mời gia đình Nhân Điện chúng ta cùng đọc bài với một tâm trí rỗng rang, dùng dòng điện từ băng tần zero hoạc băng tần tổng hợp để đọc chứ không dùng trí thường của con người để phân tích.


Quan Sát Và Lắng Nghe Để Trở Về Tỉnh Thức

Thầy nói sâu về chỗ tin vào suy nghĩ vì chỗ đó rất quan trọng! Đây là đầu mối của vấn đề bản ngã. Nếu tin bản thân chính là suy nghĩ, con người suy nghĩ chính là mình thì là tin vào bộ máy. Suy nghĩ chỉ là một bộ máy trong não. Thầy đã kể cho quý vị nghe biết bao nhiêu lần trong lúc đang đi xe hoặc đi bộ giữa ban ngày mà thầy ở trong trạng thái tự nhiên bộ máy suy nghĩ bị khóa lại, không nghĩ được nữa nhưng thầy vẫn sống, vẫn đi, vẫn quan sát thấy mọi thứ. Thầy vẫn sống đó nhưng muốn nghĩ không nghĩ được. Như vậy, lúc nghĩ không được có phải thầy chết không hay có phải thầy không còn là thầy nữa không? Không, thầy vẫn sống và vẫn là thầy, vẫn đi, thấy, biết hết, chỉ muốn nghĩ là không nghĩ được thôi. Như vậy rõ ràng, sau vài giờ, thầy tỉnh lại và bắt đầu phục hồi bộ máy suy nghĩ thì bộ máy suy nghĩ hoạt động trở lại tinh thức thông thường và thầy muốn nghĩ gì thì nghĩ. Có lẽ ơn trên cho thầy biết rõ ràng, suy nghĩ chỉ là một bộ máy. Như vậy đương nhiên mình muốn bộ máy suy nghĩ hoạt động thì khởi động và nó suy nghĩ, không muốn thì thôi.

Khi bộ máy suy nghĩ ngừng hoạt động, im lịm thì bản thân khỏe. Nếu không đủ khả năng làm cho bộ máy suy nghĩ nghỉ ngơi, cứ để nó hoạt động liên tục thì sẽ bị rất mệt và đuối sức. Nếu không thì bị chạy theo bộ máy suy nghĩ, bị nó dẫn đi. Bộ máy suy nghĩ giống như con ma, có khả năng dẫn dắt và bắt con người tin vào nó, cho họ cảm giác đúng: tôi quyết định vậy là đúng vì đã suy nghĩ rất kĩ và mất rất nhiều thời gian. Không phải suy nghĩ nhiều thời gian là đúng, suy nghĩ hàng nghìn năm cũng vẫn cứ là suy nghĩ và không thể cho rằng đúng được. Bởi vì không điều khiển được bộ máy suy nghĩ, nó tự động chạy và con người chạy theo nó, không làm chủ được nó nên không thể biết đúng hay sai.

Thầy cho rằng, không biết vì sao Phật đã chọn và tập luyện cho thầy, cho thầy biết những chuyện huyền bí như vậy trong thực tế. Như lúc thầy đang đi làm, tự nhiên bộ máy suy nghĩ bị khóa lại, muốn nghĩ cũng không nghĩ được. Xe tới chỗ làm hay địa điểm cần tới rồi nhưng thầy không thể ra lệnh dừng được, và không xuống, cứ ngồi cười. Lúc đó, bộ máy suy nghĩ tự động bị dừng lại giống như chiếc xe bị hết nhiên liệu và thầy không suy nghĩ được nên tài xế hỏi, thầy không biết trả lời, không biết nói làm sao vì không biết tài xế hỏi gì, chỉ cười mãi. Tài xế của thầy biết vậy nên cứ lái đi vòng vòng cho tới khi bộ máy suy nghĩ của thầy hoạt động trở lại, bấy giờ thầy mới ra lệnh rẽ đường này, qoẹo đường kia và dừng ở đâu…

Như vậy, ơn trên cho điều đó để thầy biết rằng, giữa con người thật với bộ máy suy nghĩ hoàn toàn khác nhau, mình hoàn toàn khác với bộ máy suy nghĩ. Và một thời gian ngắn sau đó, tự nhiên thầy khám phá ra được, Phật tính vỡ ra và báo cho não bộ của thầy biết suy nghĩ là nguyên nhân gây ra khổ đau, bộ máy suy nghĩ là vô cùng nguy hiểm và phải biết sử dụng, phải làm chủ bộ máy suy nghĩ. Khi cần suy nghĩ thì suy nghĩ để giải quyết, sắp xếp, phân tích, quyết định vấn đề trên cơ sở dữ liệu đã có rồi. Nghĩa là xem xét, suy nghĩ trên những cái cụ thể đã có đó. Còn những gì chưa cụ thể mà cần tư duy, nghĩ về hướng đó nhưng chưa ra được gì thì coi như nghĩ chơi rồi bỏ đi.

Ví dụ khi học toán có các mệnh đề, định lí… và thầy giáo ra bài tập có những điều kiện tương ứng với 3 cách giải. Khi đó cần phải nghĩ xem cách giải nào hay và hiệu quả nhất. Lúc này là cần phải suy nghĩ và suy nghĩ trên những vấn đề đã có để chọn, không suy nghĩ mung lung. Cho nên, giữa bộ máy suy nghĩ làm việc và con người thật là hoàn toàn khác nhau. Bộ máy suy nghĩ chỉ là bộ máy suy nghĩ còn người thật chính là đại tỉnh thức, không phải bộ máy suy nghĩ. Tương tự, thân tứ đại là thiết bị cho đại tỉnh thức ứng, sử dụng. Do vậy, bộ máy suy nghĩ và thân tứ đại là hữu tướng, còn thế giới tỉnh thức là thế giới vô tướng, vô hình.

Khi biết được thế giới vô hình thì lợi ích vô cùng! Sẽ biết sử dụng toàn bộ thiết bị của thế giới hữu hình, trong đó, có bộ máy suy nghĩ. Biết sử dụng bộ não, thân thể, con mắt, âm thanh… tất cả mọi thứ và đều sử dụng một cách chủ động.

Bài tập quý vị phải tập thường xuyên là luôn luôn để ý đến bộ máy suy nghĩ của cái đầu, không được tin, chạy theo và đồng hoá bộ máy suy nghĩ là mình. Bản ngã được sinh ra chính từ bộ máy suy nghĩ. Tự nghĩ rằng bản thân đi tu, chứng ngộ, đắc đạo, thành Phật, là hay và nghĩ tất cả mọi người phải nghe theo mình... đều do bộ máy suy nghĩ mà ra. Vì tin vào bộ máy suy nghĩ nên đánh mất sự quan sát và lắng nghe. Nếu không tin vào bộ máy suy nghĩ thì sẽ sử dụng sự quan sát, lắng nghe.

Khi quan sát và lắng nghe rất tĩnh lặng thì tự nhiên ánh sáng vàng, ánh sáng xanh xuất hiện. Quan sát và lắng nghe tập trung có nghĩa là ánh sáng trắng hiện hữu. Ánh sáng trắng hiện hữu đi qua cái đầu, con tim, lục căn rất thanh tịnh nên cho ra trí tuệ, giải pháp để giải quyết vấn đề mà bản thân bộ máy suy nghĩ và đầu óc không thể biết được điều đó. Ví dụ, lịch ngày mai phải tới gặp một người mà không biết họ mời mình tới để làm gì. Không cần phải suy nghĩ nhưng luôn ở trạng thái tỉnh thức lắng nghe, quan sát. Nếu vì người mời ở xa, không quan sát được thì quan sát, lắng nghe nội tâm hoặc lời mời đó trong nội tâm. Thì giờ tới, nếu có điều không may mắn hay nguy hiểm cho bản thân thì tự nhiên Phật tính sẽ báo cho biết bằng cách cho thấy tín hiệu gì đó khiến không yên tâm, cho cảm giác rất đặc biệt khi biết lắng nghe. Không yên tâm, còn ngờ vực thì nhất định không tiến hành.

Khi lắng nghe âm thanh, sự yên lặng bên trong, lắng nghe cái đầu, cũng như suy nghĩ một cách tuyệt đối thì tự nhiên ánh sáng trắng sẽ cho cảm giác và giải pháp tối ưu. Đó là một trong những sức mạnh của ánh sáng trắng. Có những lúc phải giải quyết những vấn đề rất rắc rối, cực kì khó giải quyết của cuộc đời. Lúc ấy, dùng bộ máy suy nghĩ mà không tìm ra giải pháp thì đừng dùng nữa. Hãy trở về với một hay hai hoặc cả ba ánh sáng trắng, vàng, xanh cùng lúc bằng cách chỉ lặng im quan sát, thì tự nhiêu việc cần giải quyết sẽ được giải quyết bằng cách nào đó mà bản thân không thể biết, nhưng hoàn cảnh hoàn toàn thay đổi nên gọi là màu nhiệm.


Đừng Đồng Hóa Suy Nghĩ Là Mình

Học và áp dụng như thế rõ ràng rất có lợi mà không phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt thì tại sao không học? Trong Bible của Thiên Chúa giáo có câu chuyện về Adam và Eva. Eva là người phụ nữ được tạo thành từ chiếc xương sườn thứ 7 của Adam. Họ sống trong cảnh không mảnh vải che thân và không hề biết mình như thế. Thiên Chúa cho họ sống trong một vườn cây rất đẹp là vườn Địa Đàng được các vị thần bảo vệ. Họ được ăn tất cả những trái cây trong vườn, trừ một loại trái cây mà Thiên Chúa dặn không bao giờ được ăn vì ăn vào sẽ nguy hiểm đến mạng sống. Nếu Adam và Eva chỉ ăn các quả khác, không ăn thứ quả mà Thiên Chúa đã cấm thì sẽ được sống lâu dài và thân thể không cực nhọc, sống bình yên, sung sướng. Và chiều chiều được đi dạo cùng Thiên Chúa trên cánh đồng lộng lẫy, gió thổi vi vu. Nhưng nếu ăn phải trái cấm thì đời sẽ đắng cay!

Một dịp Thiên Chúa đi vắng, Adam đang ngủ thì có một con rắn xuất hiện và tới nói với Eva rằng: Thiên Chúa ích kỉ lắm, chỉ muốn một mình thống lĩnh thiên hạ, không muốn ai bằng nên không cho ai ăn trái cấm kia. Thiên Chúa nói dối trái cấm đó nguy hiểm, thực ra, nó là một loại trái cây quý. Tôi đảm bảo với bà, nếu ăn trái cấm ấy thì sẽ thấy đủ chuyện, lại biết suy nghĩ nhiều điều hay và trở thành người khôn ngoan giống Thiên Chúa. Eva nghe lời rắn và ăn trái cây mà Thiên Chúa đã cấm. Ăn vào, Eva liền suy nghĩ được và thấy mình là phụ nữ, không mặc quần áo.... Tự nhiên Eva thấy mình suy nghĩ được nhiều chuyện và thấy hay quá nên đánh thức Adam dậy, bảo: Thiên Chúa muốn dấu chúng ta bí mật nên ra lệnh cấm ăn trái cấm này, nói ăn vào sẽ nguy hiểm. Nhưng thật ra, tôi vừa ăn xong và thấy suy nghĩ, tính toán tới lui được, thấy chuyện gì cũng hay. Biết được chúng ta đang ở trần là không lịch sự, biết được ông là đàn ông và làm chồng, tôi là đàn bà và làm vợ, hay lắm, ông tới ăn thử mà xem. Adam liền dậy ăn trái cấm đó và cũng thấy hay như Eva. Họ cùng đùa giỡn, cười khúc khích và thấy xấu hổ khi không mặc quần áo nên chạy vào bụi cây để lấy lá che lại.

Đúng lúc ấy, Thiên Chúa trở về, không thấy Adam và Eva dưới gốc cây như thường lệ nên sinh nghi và gọi họ. Gọi tới lần thứ hai thì hai người họ mới thưa và nói: Thưa Thiên Chúa, chúng con đang kiếm lá trong bụi cây để che thân vì thấy xấu hổ quá. Khi đó, Thiên Chúa biết là Adam, Eva đã ăn trái cấm và biết suy nghĩ, biết đánh giá. Thiên Chúa liền gọi họ ra, hỏi: Tại sao các ngươi lại biết mình đang không mặc quần áo, tại sao lại nghĩ như thế là xấu, phải che lá vào mới là tốt? Adam và Eva khai đầu đuôi dẫn đến đã ăn trái mà Thiên Chúa cấm nên biết.

Thiên Chúa liền tập hợp con rắn, Adam và Eva lại để xử phạt. Ngài phạt con rắn không được sống thọ nữa và sau khi chết thì đời đời phải hóa kiếp trong thân không có chân để đi, phải trườn. Phạt đuổi Adam và Eva ra khỏi vườn Địa Đàng và phải lao động khổ cực, đầu tắt mặt tối mới đủ ăn hàng ngày, không còn được sung sướng, hưởng thú vui của sự thanh thản không cần lao động, quần áo, nhà cửa, suy tư… hay bất cứ thứ gì như những ngày sống trong vườn Địa Đàng nữa. Ở trong vườn Địa Đàng, không cần gì hết, được thọ mạng lâu dài, chiều chiều được đi dạo cùng với Thiên Chúa mà cũng không chịu thì phải đi ra ngoài vì đã biết suy nghĩ. Thiên Chúa báo cho Adam, Eva biết trước là cuộc sống bên ngoài sẽ rất cực khổ và không được sống lâu nữa, khi chết phải trở về cát bụi vì Adam được Thiên Chúa tạo ra từ cát bụi. Phạt Eva phải chịu đau đớn do sinh đẻ vì mang thân hình phụ nữ và đã biết suy nghĩ.

Cuối cùng, Adam và Eva phải ra ngoài sinh sống rất cực khổ, phải lao động vất vả, sinh nở, nuôi nấng, dạy dỗ con cái… vô cùng gian nan! Như vậy, Adam và Eva phải nhận lãnh hậu quả khổ đau đó là do cái đầu nghĩ rằng mình hay ho, trúng mánh quá.

Thầy rất vui khi đọc câu chuyện đó và thấy rằng, rất nhiều câu chuyện trong thánh kinh của Thiên Chúa giáo có mật ý trùng với Phật giáo. Ngay cả việc Thiên Chúa được thể hiện trong thánh kinh là ánh sáng màu trắng mà hễ con người nhìn thấy liền bị chói mắt.

Thông qua câu chuyện, quý vị thấy được sự nguy hiểm của đầu óc như vậy. Từ khi ăn trái cấm, Adam và Eva không còn tin vào Thiên Chúa nữa, mà tin vào cái đầu của họ nên bị Chúa Trời đuổi ra khỏi vườn Địa Đàng. Nếu quý vị tin vào đầu óc, suy nghĩ, cho rằng suy nghĩ của mình là đúng thì sẽ không được tỉnh thức, không được ở trong vườn Địa Đàng của sự tỉnh thức, không được ở trong ánh sáng màu trắng. Và phải gặp rắc rối, phải chiến đấu, phải học hành nhưng không được cao vì nhà nghèo, ra trường xin việc làm cũng khó khăn… Như vậy là phải chiến đấu bằng đầu óc, suy nghĩ và tin tưởng vào suy nghĩ, ý tưởng của chính mình.

Như vậy, rõ ràng là cứ luẩn quẩn mãi. Nếu như có ăn hoặc may mắn giàu có do trúng mánh buôn bán… thì rồi cũng phải khổ đau. Bởi vì, khi giàu có lại càng tin tưởng vào suy nghĩ của bản thân hơn và càng đâm đầu vào tảng đá. Kết cục là phải khổ đau. Bên cạnh đó còn xảy ra rất nhiều chuyện như gia đình li tán, bạn bè hơn thua, tự cao tự đại, bệnh hoạn, tù tội… và công an, thuế vụ, trộm cướp… rình rập. Cuối cùng, sẽ xảy ra tai nạn, cạnh tranh hoặc đối đầu liên tục, không sung sướng gì cả. Đấy là hậu quả của việc tin vào suy nghĩ, tự cho mình giỏi, hay quá. Khi thất bại thì lại vào chùa niệm, cầu Phật phù hộ làm ăn phát đạt, nếu được thì sẽ cúng dường, xây dựng, mở rộng… chùa. Nhưng khi phát đạt thì lại biện hộ, cầu thì nói vậy chứ làm gì có Phật nào hay ai cho, là do mình giỏi, hay quá. Thực ra, chẳng có gì hay ho cả, mà tự nghĩ vậy thôi.

Do đó, một trong những việc quý vị phải tập là coi xem bản thân có chủ động suy nghĩ cái gì đó để làm, giải quyết việc gì đó không, hay suy nghĩ tự động chui ra và khiến quý vị chạy theo. Đừng đồng hoá mình là suy nghĩ, đừng tin theo và chạy theo nó vì nó chỉ là một cái máy hay thiết bị để dùng chứ không phải là mình. Mình chính là ánh sáng trắng, sự tỉnh thức. Qúy vị tập như vậy!

Vừa rồi, phần thứ nhất thầy nói về những phương pháp mang tính chất thiền, quan sát và lắng nghe để trở về tỉnh thức. Phần thứ hai, thầy đề cập riêng đến từng vấn đề xả tâm, bố thí, cho, không tin hay dựa vào suy nghĩ của bản thân. Đặc biệt, đừng đồng hóa suy nghĩ, tư tưởng là mình như kiểu, tôi phải thế này mới khác người ta, nói tới tôi là phải nói như thế này, không thế này thì không phải là tôi… thế mới tai họa. “Tôi” là không có gì hết, còn cái tôi có là do hoàn cảnh nên tôi ứng phó và tạm biến hóa để dùng. Tính sáng thì nam, nữ đều như nhau, không có gì khác cả. Đừng dựa vào suy nghĩ mà cho rằng, tôi là phải thế này hay thế nào đó. Không nên vậy, bỏ điều đó đi để trở về sự tỉnh thức. Tỉnh thức thì làm gì có cái tôi trong đó, không hề có. Người tỉnh thức ở mức độ cao thì biết sử dụng thiết bị của cái đầu, bộ máy suy nghĩ, con tim, các hệ thống của thân thể của họ và người đó sẽ trưởng thành dần.


Vượt Qua Lòng Chấp Bằng Ý Chí

Thứ 3, thầy đề cập tới việc dùng ý chí vượt qua lòng chấp. Điều này càng ngày sẽ càng khó. Như vậy, phải dùng nhận thức, trở về tỉnh thức để quan sát xem trong tâm hồn chứa đựng những gì và cái đầu chấp gì. Ví dụ, chấp bản thân là người phụ nữ, hiếu học, không có học, nghèo khó, khôn ngoan, ngu đần, hay, dở, Phật giáo, Thiên Chúa giáo, thành thị, nông thôn… Phải biết tất cả những gì trở thành lòng chấp cố hữu mà không ai có thể thay đổi được và mình gắn chặt, dính cứng ngắc vào đó. Kiểu như, tôi là con gái thủ đô, thành phố, quê mùa… Thủ đô hay quê mùa thì tính sáng cũng y chang nhau. Thủ đô và quê mùa là hình tướng và chắc chắn luôn luôn thay đổi. Hình tướng chỉ là tạm thời, không vững bền. Từ nông thôn thành thành thị và ngược lại là chuyện bình thường và không phải là vấn đề căn bản. Cho nên, phải biết mình chấp vào những gì để cố gắng dùng ý chí vượt qua. Và an trú trong ánh sáng màu trắng, tỉnh thức để loại bỏ lòng chấp, mình chỉ là ánh sáng trắng thuần khiết. Như vậy thì tự cái đầu sẽ rỗng rang và tâm loãng ra. Khi đó, ánh sáng trắng sẽ đi qua cái đầu, bộ máy suy nghĩ và biến thành ánh sáng vàng, qua con tim thì biến thành ánh sáng xanh. Do vậy, phải dùng ý chí để vượt qua lòng chấp và khám phá.

Phải dùng ý chí tạo ra những thói quen mới để dừng và thay thế những thói quen cũ. Phải cố gắng biết những thói quen trong sinh hoạt gia đình, giao tiếp, ăn nói… cản trở việc trở về tỉnh thức để dừng chúng lại và tạo thói quen khác. Khi đó, tâm sẽ được nhuyễn. Muốn vậy, bắt buộc phải có ý chí. Thiếu ý chí thì không thực hiện được, nếu chỉ ngồi thiền, quan sát, lắng nghe không thôi sẽ không làm được, nhất định phải dùng ý chí. Khi quan sát, lắng nghe thì trở về tỉnh thức và biết bị những gì cản trở sự mở tâm. Biết rồi thì dùng ý chí để phá những sự cản trở đó.


Vai Trò Của Cầu Nguyện


Thứ 4, thầy nói tới cầu nguyện là vấn đề rất quan trọng! Đây là một pháp tu và cũng là một pháp thiền có nhiều lợi ích. Thứ nhất, giúp trở về sự thanh tịnh của tâm hồn. Vì khi chú tâm tuyệt đối vào cầu nguyện thì bản ngã mất đi nên không còn tin vào suy nghĩ, tính toán, sự vùng vẫy của bản thân nữa. Hay còn tin nhưng chỉ tin sơ sơ. Tức là sự vùng vẫy ấy chỉ còn một phần nhỏ nhoi, còn sự gia trì, giúp đỡ của ơn trên là vô cùng lớn thì bản ngã cũng nhỏ đi. Lúc đó, nhờ dựa và tin vào lời cầu nguyện với đức tin nên cảm thấy nhẹ nhàng, bình yên hơn. Khi ấy, sự tỉnh thức hiện hữu được nhiều hơn, cho cảm giác thỏa mái và sức mạnh lớn hơn. Không biết và chưa cần biết Phât, Bồ Tát, Chúa, Trời, thần linh… có cứu, giúp gì không nhưng khi cầu nguyện chí thành thì chắc chắn được tăng sức mạnh, bình an. Cho nên, sự cầu nguyện rất quan trọng!

Như vậy, cầu nguyện phải đi cùng với đức tin. Ví dụ, cầu nguyện đức phật Thích Ca, tượng trưng là ánh sáng vàng, là trí tuệ giải thoát, trí tuệ không khổ đau. Cầu nguyện đức phật A Di Đà, tượng trưng là ánh sáng trắng và cho sự tinh khiết trong tâm hồn, trở về với tỉnh thức. Cầu nguyện Quan Thế Âm bồ tát, tượng trưng là ánh sáng màu xanh và cho tình thương để giải quyết vấn đề, vượt qua khó khăn. Đức tin an trú trong lời cầu nguyện nên cảm thấy bình yên. Bởi vậy, cầu nguyện rất cần thiết! Cầu nguyện liên quan đến vấn đề làm cho bản ngã nhỏ đi, không gian tỉnh thức lớn ra, tiếp nhận được một năng lượng vô hình giúp cảm thấy bình yên và sức mạnh to lớn hơn. Cho nên, không nhất thiết là đạo nào, miễn đã thích và lựa chọn theo truyền thống đạo nào đó rồi thì bám vào đức tin của đạo đấy là cũng hưởng được lợi ích của đức tin trong cầu nguyện. Nhưng với chương trình giảng dạy này là thầy hướng dẫn quý vị sử dụng cầu nguyện để trở về tỉnh thức, thu nhỏ bản ngã, tăng năng lực chịu đựng và niềm tin để tăng sức mạnh vô hình. Còn chuyện có các vị nào đó giúp mình hay không thì chưa cần bàn tới.


An Trú Vào Tỉnh Thức, Chính Là Con Người Thật Của Mình.

Thứ 5, phải thường xuyên để tâm vào cõi vô niệm, vô hình màu nhiệm. Lúc nào cũng phải để tâm vào cõi đó. Hễ thấy gì là hữu tướng thì nghĩ ngay đến vô tướng. Nghe có âm thanh thì nghĩ tới và lắng nghe ngay cõi không có âm thanh, cõi yên lặng của bản thân. Biết vô hình là nền tảng, là background của hữu hình. Nơi mà mọi thứ hữu hình từ đâu mà có thể hiện ra. Hàng ngày luôn luôn để ý, quan sát, lắng nghe, để tâm đến cõi yên lặng thì tự nhiên một lúc nào đó, cõi đó sẽ luôn luôn cho những lời giải đáp, không phải lo lắng thiếu trí tuệ. Và không thể nào nói hết được giá trị của cõi vô hình đó. Vì vậy, phải thường xuyên để ý tới, mặc dù không thể thấy, biết hay chưa hiểu, biết cõi vô hình của bản thân. Giống như việc nếu luôn luôn để ý đến một quyển kinh không có chữ ở chung quanh hay đâu đó trong hay dưới thân thể, thì tự nhiên quyển kinh đó sẽ cho những lời giải đáp. Đó là điều quý giá của vấn đề mỗi ngày, lúc nào cũng thường nên suy nghĩ tới cõi vô hình.

Ví dụ, trước khi định nổ máy xe đi đâu đó. Từ quãng đường trong nhà ra chỗ để xe, quý vị nghĩ tới cõi vô hình trong cơ thể. Tới xe nhưng chưa vội khởi động, mà ngồi nghĩ tới cõi vô hình, âm thanh vô hình trong tâm, ngay trong con người của mình chừng 1, 2 hay 3 giây, rồi mới khởi động để đi. Nhưng khi đi trên đường thì tập trung đi theo luật lệ, quan sát dòng xe trên đường… và cảnh giác với ý nghĩ để việc lái xe được hoàn toàn tập trung. Tập trung lái xe hết sức cao độ vậy nghĩa là đang ở trong trạng thái tỉnh thức cao nhất. Do vậy, tai nạn ít xảy ra. Ngược lại, không tập trung cao độ thì tỉnh thức giảm và dẫn đến tai nạn có thể xảy ra. Ở trạng thái tỉnh thức cao, chắc chắn không gây tai nạn. Và trong trường hợp có người không ở trạng thái tỉnh thức đâm vào thì cứ yên tâm là, tai nạn sẽ xảy đến với quý vị rât ít, rất nhẹ, không nguy hiểm. Bởi vỉ, khi ở trong trạng thái tỉnh thức cao thì toàn bộ cơ thể rất nhẹ nên khi họ đâm vào, tự nhiên thân thể sẽ bay ra giống như bông gòn. Xe có thể bị nát nhưng người ở trạng thái tỉnh thức cao không chết.

Đó là cách mà thầy rất yên tâm khi đi máy bay hay bất cứ xe gì, không bao giờ sợ tai nạn vì biết cách xử trí để thầy được an toàn nhất. Khi ở tỉnh thức cao độ, thân thể vị rất nhẹ. Giống như một người không biết bơi nên khi nhảy xuống biển, sông sâu thì chìm nhanh vì cơ thể quá nặng do nhiều suy nghĩ, lo sợ. Còn nếu tỉnh táo, coi như biết bơi hay đang ở chỗ không có nước thì cơ thể sẽ nhẹ hơn rất nhiều và lâu chìm. Suy nghĩ làm cho mất tỉnh thức, dẫn đến thân thể nặng nề. Cho nên, nhiều người và trẻ em đi máy bay, rơi xuống nhưng không chết hoặc nhiều trường hợp bị đâm xe nhưng thân thể bay ra ngoài, không chết. Khi đó, họ may mắn kịp cầu nguyện hoặc vì lí do nào đó mà trở về với tỉnh thức được nên thân thể rất nhẹ. Cầu nguyện mà vẫn lo lắng, sợ hãi thì cơ thể vẫn nặng. Còn cầu nguyện mà tin tuyệt đối là nhất định có người sẽ đến cứu thì tự nhiên không lo lắng, sợ hãi gì nữa hết làm cho thân thể nhẹ đi. Vì vậy, khi đi xe, quý vị nên tập như vậy. Đó là thầy nói về việc thường xuyên để tâm, ý vào thế giới vô hình, màu nhiệm của bản thân mỗi người.

Xác Định Mục Đích Là Đời Sống Vô Tướng

Thứ sáu là chọn mục đích của cuộc đời. Phải biết chọn mục đích của cuộc đời. Thầy tạm chia ra là thế giới hữu tướng và vô tướng. Đa số mọi người chọn mục đích sống là thế giới hữu tướng, ít người để ý đến đời sống vô tướng. Đối với những thứ nhìn thấy được như vợ, con cái, việc làm, nhà ở, các loại tài sản và các cảm xúc, các ý muốn đều mang tình cách hữu tướng. Con người dành hết mọi năng lực của mình cho đời sống hữu tướng nầy, nhưng không bao giờ vừa ý được.

Nếu chạy theo mục đích hữu tướng không thôi thì sẽ chạm phải điều thứ nhất là không bao giờ thỏa mãn. Tiếp theo, tất cả mọi thứ thuộc về hữu tướng đều xảy ra, biến đổi rất nhanh chóng, có thể tan như mây khói. Và nhất định, không bao giờ hữu tướng để lại sự em ái, dễ chịu, chỉ đem lại niềm vui ngắn ngủi rôì mất đi. Không thể xem thường hữu tướng nhưng chon vô tướng là ưu tiên hang đầu. Trở về khám phá con người thật của mình là trở về khám phá sự tỉnh thức, đó là đời sống vô tường và có thật, vĩnh viễn bất sinh diệt. Lấy mục đích đó làm chính vì sẽ chiêu cảm đời sống hữu tướng hình thành với tính chất bình yên, dễ chịu, an toàn và bền bỉ hơn. Nếu hữu tướng có biến động cũng không đau sót, vì đã an trú trong đời sống vô tướng. Xác định chọn khám phá, an trú vô tướng là mục đích ưu tiên số một bởi nhiều lí do như thầy đã nói. Trong đó, có lí do không ngờ tới là mục tiêu đời sống hữu tướng sẽ thành tựu rất nhẹ nhàng. Đó là lí do chọn mục tiêu khám phá vô tướng làm đầu và thường xuyên. Thầy không khuyên bỏ mục tiêu hữu tướng nhưng lấy vấn đề chú ý, ưu tiên và thường xuyên khám phá đời sống vô tướng làm mục tiêu quan trọng nhất. Như vậy, sẽ thấy nhẹ nhàng nhất với mục tiêu của đời sống hữu tướng.

Đó là 6 vấn đề thầy đưa ra để quý vị tập. Phải vừa tập cá nhân vừa tập nhóm và thông qua hoạt động của Trung tâm để ứng dụng.

Cuộc đời vốn không hề đơn giản, “ba chìm, bẩy nổi, chín lênh đênh”, nay chuyện này mai chuyện kia, người chê kẻ trách, nhiếc móc, nhục mạ… Nhưng một khi an trú được trong tỉnh thức thì tất cả những điều đó không hề thấm thía, chỉ phát sinh tình thương, ánh sáng màu xanh để giải quyết. Nhìn vào trong và phóng ra ánh sáng màu xanh để tự mọi chuyện êm xuôi. Không hướng tai ra ngoài để nghe mà chỉ lắng nghe bên trong, không mở mắt nhìn ra ngoài mà khép mắt nhìn vào trong thì bao nhiêu sự nhục mạ đều không ăn thua. Đời sống, đầu óc con người vốn hết sức phức tạp, nguy hiểm, độc ác…

Không thể ngồi cầu thần linh giải quyết hộ, không thần nào giải quyết được cả. Ai đã lỡ ngồi nghiên cứu thần linh thì sớm quay trở lại, vì không giải quyết được gì và thực ra cũng không chứng minh được gì từ việc làm ấy. Đi đường đó là bế tắc, không nên. Phải khai mở ba thế lực ánh sáng trắng, vàng, xanh. Khai mở được thì muốn tìm thần thần linh, thần sẽ đến và chư thiên thấy các ánh sáng đó sẽ phóng tới. Ba ánh sáng đó sẽ chiêu cảm tất cả thánh nhân, năng lực vô hình, màu nhiệm. Quý vị giống như là trung tâm phóng ra ba luồng ánh sáng đó và dần dần sẽ biết được hết tất cả những gì mang tính chất huyền bí của vũ trụ. Thậm chí tới lúc nào đó có thể cảm nhận ngay là, trong hàng tỉ hành tinh của vũ trụ bao la không ít hành tinh có sự sống giống và khác nhau. An trú trong ánh sáng trắng thì sẽ được báo cho biết có nhiều sự sống khác nhau trong nhiều hành tinh khác nhau trong vũ trụ bao la.

Nhiều khi thầy thường nói chuyện quốc tế, cộng đồng và các hành tinh. Thầy nói, mình không chỉ là công dân của nước Việt Nam mà còn là công dân của cả thế giới, không chỉ là công dân của quả đất mà còn là công dân của trái đất với các hành tinh khác. Nhờ ánh sáng trắng cho thầy những tín hiệu nên thầy dám nói những chuyện đó. Do vậy, thân thể chỉ là thiết bị để thầy phát huy 3 ánh sáng đó thôi.

An trú trong 3 ánh sáng đem lại giá trị vậy nên tất cả mọi thành tựu về mặt hữu tướng ở thế gian không hề có ý nghĩa đối với thầy. Tất cả danh vị, sự tranh cãi hơn thua, đúng sai, ăn mặc, nhà cửa, xe cộ, ô lọng… trên thế gian đối với thầy quá nhỏ bé. Gần như thầy thấy con kiến còn to hơn mọi tài sản hữu tướng. Không gì có thể khiến thầy phải suy tư. Thầy chỉ thương con người cứ bàn cãi hơn thua, giành giật tiếng tăm và đóng kịch với nhau mãi. Một ngày nào đó, nhân loại sẽ khám phá có rất nhiều đời sống trên các hành tinh khác sống rất đẹp, hài hòa, họ không cần nịnh nọt, hơn thua, chém giết nhau… họ sống hết sức bình yên! Cho nên, hơn thua nhau căn nhà, chức vụ, quần áo, tiếng tăm… làm gì, hết sức tầm thường, nhỏ bé. Nếu biết có những sự sống ở các hành tinh khác rất tuyệt vời thì việc hơn thua ở thế giới này là vô nghĩa, lố bịch và buồn cười. Không nên chạy theo con đường hơn thua.

Quý vị học với thầy để và phải mở rộng được tầm nhìn. Khi an trú được trong ánh sáng trắng thì tầm nhìn vô cùng rộng lớn. Tới chừng nào đó, toàn bộ mọi thành tựu hữu tướng ở thế giới này không hề làm cho quý vị xúc động. Bởi vì, tầm nhìn đã quá rộng, một trong những sức mạnh của Phật tính là tạo ra tầm nhìn hết sức rộng lớn, không thể hình dung nổi. Từ tầm nhìn vô cùng rộng lớn, thầy luôn luôn nghĩ tới cuộc sống ở các hành tinh khác. Nhờ sự so sánh cuộc sống ở những hành tinh đó với trái đất mà thầy thấy, toàn bộ thành tựu ở trái đất đều vô nghĩa. Do đó, khi an trú trong ánh sáng trắng thì sẽ có tầm nhìn rất đặc biệt, nhờ đó, có được hạnh phúc vô biên triền miên. Tầm nhìn chính là ánh sang trắng, ánh sáng vàng, mang lại sức mạnh, hạnh phúc to lớn vô cùng.

Tóm lại, toàn bộ các bước đi mà thầy hướng dẫn quý vị thực hành tâm linh sẽ đem lại kết quả là, quý vị sẽ nhận rõ bản ngã và không để nó làm chủ. Bên cạnh đó, chỗ rốt ráo của Phật giáo là bầu trời tỉnh thức sẽ bừng sáng, không còn gì hơn. Khi bầu trời tỉnh thức bừng sáng, một lần nữa, quý vị lại đứng trên vô ngã và hữu ngã. Lúc cần vô ngã thì vô ngã, khi cần hữu ngã thì hữu ngã, tất cả chỉ là hiện tướng vì đã hoàn toàn an trú trong ánh sáng trắng. Lúc biến hóa thành ánh sáng vàng, khi biến thành ánh sáng xanh hay thỉnh thoảng biến hóa thành ánh sáng đỏ là sự giận giữ hoặc ánh sáng đen là sự u buồn… là sự hiện tướng để chia sẻ với cuộc đời những điều và lúc cần thiết chứ không phải là người thật. Người thật chính là ánh sáng trắng, là sự tĩnh thức hoàn hão và tĩnh thức sâu thẵm. Sự tĩnh thức nầy là bất tử, bất sanh bất diệt.

Bài giảng hôm nay tới đây thầy dừng lại. Nội dung này, mỗi người phải tự nhớ và trao đổi với nhau. Vì thầy đã trao đổi những nội dung hết sức cần thiết rõ ràng, kĩ lưỡng, không còn lầm lẫn gì nữa. Rồi từ ba luồng ánh sáng đó, quý vị muốn có gì đều được, mơ ước gì sẽ có. Đừng lo những việc nhỏ bé của cuộc đời và thầy đảm bảo quý vị không hề sợ nghèo đói, bệnh tật, tai nạn, kể cả chết chóc.

Quý vị tập bài này, lúc đầu thì khó nhưng sau đó chừng 3 tháng trở đi sẽ cảm thấy mình cần sự thực hành như cần không khí trong lành để thở vậy. Và một điều chắc chắn là, sự chật chội trong đầu óc sẽ biến mất và quý vị sẽ vĩnh biệt kiếp sống nghèo từ trong đầu óc đến cả bên ngoài. Nhất là bên trong đầu óc, sẽ thấy luôn vừa lòng với cuộc sống.

Cầu nguyện chư Phật gia hộ cho quý vị!

(Thầy Duy Tuệ thuyết giảng qua Skype cho CLB TNT Tuổi trẻ Thăng Long, ngày 24/05/2008)


Tính theo múi giờ GMT +7, hiện tại là 6:41 pm.

Powered by vBulletin & vBadvanced CMPS
Copyright © 2000 - 2018, Jelsoft Enterprises Ltd.