Click here to translate
Khoa học tâm linh nhân điện.
Old 16-01-2012, 5:00 pm  
tuanvu_quynh1949
Senior Member
 
tuanvu_quynh1949's Avatar
 

Default Khoa học tâm linh nhân điện.
KHOA HỌC TÂM LINH NHÂN ĐIỆN





TÌNH YÊU CUỘC SỐNG



Lời tự sự của Mê Kông

Tình yêu cuộc sống là chân giá trị siêu phàm, thiêng liêng mà mỗi chúng ta được lãnh nhận từ Đấng Tự Nhiên Vĩ Đại. Con người luôn là thành tố tự nhiên và là sinh thể đại diện cao cấp nhất cho sự sống muôn màu muôn vẻ mà Đấng Sáng Tạo đã dành cho trái đất này. Được sống làm người là một may mắn, một ân huệ vô lượng. Hãy sống để đón nhận và trình diễn tâm hồn đẹp và cao quý của mình với đất trời, núi sông hùng vĩ và với con người cần lao. Tình yêu cuộc sống là sự nhận cảm vẻ đẹp vô ngôn của sự sống muôn loài và đó chính là sự hiện diện của Thượng Đế trong lòng ta. Thiết tha yêu cuộc sống và sống có trách nhiệm với nhau và muôn loài để bảo tồn và phát triển sự sống, thì Thượng Đế "tình yêu cuộc sống" luôn đồng hành bên ta, "hồn thiêng sông núi" và “sinh lực tỏa sáng càn khôn” luôn chiếu rọi muôn nơi trên hành tinh xanh này.





Chương 1


THÔNG ĐIỆP TỪ MẸ

Vẳng nghe chim lạc kêu chiều
Bâng khuâng nhớ Mẹ chín chiều ruột đau
Hành trang của đứa con sau*
Ấy là tình Mẹ** xốn xang con chờ

* đứa con sau: giống dân thứ 6, sau người thể đặc hiện đại, giống dân thứ 5 theo truyền thuyết bí ẩn lưu truyền lại đến ngày nay
**Tình Mẹ, Mẹ trái đất ẩn chứa năm thành tố tự nhiên vật chất là đất, nước, lửa, gió và con người và ở đâu trong càn khôn này hội đủ các thành tố đó thì niết bàn hay thiêng đàng của sự sống xuất hiện. Mẹ là biểu tượng tình yêu cuộc sống thiết tha nhất là sự nhận cảm vẻ đẹp vô ngôn của sự sống trong mỗi tâm hồn con người.

Mẹ Trái đất trăn trở

Ông tiên thời gian đang quay những vòng quay hối hả, đưa mẹ Trái Đất của chúng ta đến bến bờ mới “cực zero”, tạm gọi như vậy. Sinh lực tỏa sáng càn khôn với những băng tần sóng điện siêu tinh khiết, mới lạ đang ập vào lòng Mẹ, dưới dạng năng lượng vũ trụ vi tế, năng lượng ẩn tự nhiên. Sinh lực tỏa sáng càn khôn vi tế ấy đang là động lực sinh thành thế giới mới, con người mới mà mỗi chúng con đang đón nhận trong sự ngủ say, giấc ngủ cả ngàn năm tăm tối.
Những đứa con của mẹ, đói khát tình thương và sữa mẹ đang ngơ ngác, lo lắng thấp thỏm về ngày “ra đi”của mẹ. Đó mới điều là nghịch lý. Vì sao vậy? Mẹ ra đi vì đã bao ngàn triệu năm nay, Mẹ lầm lũi, tủi nhục, để ôm ấp che chở, nuôi nấng đàn con thơ dại và dại khờ đến mức không nhận ra mẹ vì đói khát vật chất trong lòng mẹ. Mẹ có tiếc gì đâu kể cả trái tim duy trì sự sống của Mẹ vì các con. Tình thương yêu vô hạn của mẹ dành cho ai đây, ngoài những đứa đang con sống trong lòng Mẹ. Nhưng con oi! sữa mẹ đâu phải dầu mỏ, hơi mẹ đâu phải khí đốt, tình Mẹ đâu phải sự đố kỵ, ghen ghét, tranh quyền đoạt lợi và hận thù. Mẹ sững sờ vì đàn con thơ dại, hiếu thắng, đòi chinh phục cả tự nhiên, vị ngự ở nơi cao xanh, xa vời vợi, vượt xa cả những tưởng tượng siêu phàm của con người.
Tình mẹ chính là ngọn lửa tình yêu cuộc sống, phi vật chất, ẩn chứa trong con. Sữa mẹ là nước tinh khiết chảy từ những con suối nơi đầu nguồn và đổ ra khắp các dòng sông ở mọi nơi trên thế gian này. Để rồi hòa chung vào biển lớn, biển tình mẹ, nghĩa cha. Hơi mẹ là không khí trong lành, mà mỗi buổi ban mai con thẫn thờ cảm nhận, sau một đêm dài chìm trong giấc ngủ “vô minh” ảo ảnh của những tham vọng vật chất khôn cùng. Da thịt mẹ là “đất lành chim đậu” nơi con đang sống. Bóng Mẹ là những ngọn gió mát trong lành đến với con vào buổi trưa hè oi ả. Còn các con là những con người vật chất bằng da bằng thịt, được mẹ sinh ra từ vật chất và được Cha trên trời thổi vào luồng sinh khí tự nhiên của Ngài. Vậy đấy, đất, nước, lửa, gió và con người là năm thành tố tự nhiên có từ lòng Mẹ con có thể quên rồi sao? Cha dặn mẹ lưu giữ cho Ngài hàng triệu triệu năm nay và mẹ đâu có tiếc tuổi “thanh xuân” của mình vì chữ tín và tình yêu với Ngài.
Con có “quyền con người” để tự do, vậy đất, nước, lửa, gió kia thì sao? Con đã cướp đi quyền của các anh chị con và con cho đó là quyền tự do của mình. Nào là khai mỏ đào vàng, hút dầu làm phương hại đến quyền tự nhiên của đất. Nào là ngăn sông đắp đập, ngăn trở cả nhịp sống của các dòng sông. Nào là xây dựng các cao ốc cản trở sự tự nhiên di chuyển của làn gió. Rồi cuối cùng là lấy điện thay lửa (điện sản xuất từ dầu, từ than đá và các chất phóng xạ chết người), làm lụi tàn những cánh tro mang hơi lửa tự nhiên. Sự bất tuân những “quyền” cơ bản của các thành tố tự nhiên vật chất do chính con gây ra sao còn trách Mẹ? Mẹ đã buộc phải trở mình để cứu các con yêu của mẹ là đất, lửa, nước, gió và con người để chúng được quyền tồn tại theo sự xếp đặt của tự nhiên, mà trong đó con là đứa con út “ngạo mạn” đáng yêu của mẹ. Mẹ không muốn làm, nhưng đã là quy luật của tự nhiên đâu cưỡng được và mỗi lần như vậy là mỗi lần lòng mẹ tái tê, xót xa cho đứa con út đáng thương.
Nhưng rồi như quy luật tái sinh của sự sống vũ trụ, mẹ lại sinh sôi đàn con mới từ “quỹ gen” nhân loại chứa trong lòng Mẹ và rồi Ngài trên trời lại thổi vào hơi ấm sự sống từ Đại càn khôn, để thế hệ các con “giống nhân loại” mới lần lượt ra đời. Mỗi lần mẹ tẩy rửa thân xác, các con hãy xem là mỗi lần mẹ “trở dạ” vậy thôi, chứ mẹ an phận là “người đàn bà vũ trụ” chỉ biết sinh nở nuôi nấng các con, còn số phận của các con, mẹ đâu có định đoạt được, mà nếu có thì hãy tự hỏi mình và hỏi Ngài, Đấng Tạo Hóa mang hơi thở Càn Khôn để nghe lời chỉ dạy.
Bạn ơi, nếu bạn cùng chia sẻ với chúng tôi ý tứ trên đây về số phận “người Đàn bà vũ trụ” thì chúng ta mới thấu hiểu tình Mẹ trái đất rộng lớn như thế nào. Chúng ta đã quên đi vai trò sống chung với những thành tố tự nhiên là đất, nước, lửa và gió. Đó là những người “anh em vật chất” có cùng gốc với chúng ta. Nếu hỏi số phận của Mẹ trái đất như thế nào trong chu kỳ biến đổi lần này, thì chỉ có thể trả lời ngắn gọn “thay đổi và không thể dự đoán” để năm thành tố vật chất, tự nhiên ở không gian ba chiều này, biến đổi và giao hòa với các chiều không gian khác, theo mô hình “chuyển đổi vi tế” để hòa nhịp với đời sống mới của vũ trụ. Nói dễ hiểu hơn, những chìa khóa mới để “vật chất hóa” và “phi vật chất hóa” sẽ trao cho nhân loại mới để loài người ba chiều, người thể đặc, song hành và hài hòa với những đời sống của những “người sóng điện” ở các không gian bốn chiều và nhiều chiều khác. Khi sự giao thoa xảy ra giữa các không gian đa chiều với không gian ba chiều, sẽ xảy ra sự giải phóng những “năng lượng vi tế” hàm chứa trong thời gian tự do. Thể hiện của sự giải phóng năng lượng này, đã bắt đầu xảy ra, và ai cũng biết đó là động đất, sóng thần, bão tố, hạn hán, băng tan v.v. Còn có điều gì nữa không? Tất tùy thuộc vào sự minh triết giác ngộ của nhân loại. Nếu các cấu hình tư tưởng mới với nghĩa đơn giản là “tâm hồn tinh khiết” yêu cuộc sống xuất hiện càng nhiều trong bầu không gian trái đất, khung giá trị mới do chính con người xây dựng “sống để yêu thương và chia sẻ với muôn loài”, thì sẽ không còn điều gì khốc liệt mới nữa và Mẹ trái đất sẽ vẫn mãi bên các con như ngày nào. Và đó sẽ dường như là lời cảnh báo cuối cùng cho số phận của loài người trên thế giới này.

Lòng mẹ rộng vô cùng

Từ nơi sâu thẳm trái tim mỗi con người, con hãy tự hỏi mình, đã mấy lần khi được sống hoàn toàn thanh thản con đã biết nhớ về công đức cao dày của Mẹ con, trái đất? Có chăng con chỉ tưởng nhớ tới Cha con, vị Thượng Đế, vị Chúa tể muôn loài vạn vật, đầy quyền lực tối thượng và với những luật tự nhiên thẳng thừng, khắc nghiệt của Ngài. Đối với Ngài, con và cả Mẹ nữa, chỉ được coi là một dấu chấm không có kích thước trong đại càn không bao la vô cùng vô tận. Đó mới là điều nghịch lý. Đáng tiếc thay, trong suốt chiều dài lịch sử lầm than của nhân loại, chưa có bất kỳ một triết lý nào, một đạo giáo nào, một con người nào, nhắc tới vai trò và tình Mẹ trái đất một cách đầy đủ thiêng liêng nhất. Đó chính là sự hư hỏng của nòi giống con người, và đó cũng chính là sự tiến hóa thụt lùi của nhân loại.
Con đã bao giờ thấy được Cha trên trời hiện hữu chưa? Nếu có, đó chỉ là hoang tưởng, vì Ngài không bao giờ xuất hiện trên thế gian này với cấu hình tư tưởng yêu thương, che chở, nuôi dưỡng các con như Mẹ. “Cấu hình tư tưởng đại càn khôn” của Cha trên trời, là “không nguyên”, là zero và chỉ có tình mẹ là “nhị nguyên” với cảm giác hạnh phúc và bất hạnh, có ác có tà, có đúng có sai. Cấu hình tưởng “nhất nguyên” về vũ trụ, cũng chỉ là hoang tưởng vì có “nhất nguyên” thì phải có “nhị nguyên” và hai cấu hình tư tưởng ấy suy ra vô cùng vô tận thì rốt cục cũng chỉ là những cấu hình “vòng vo luẩn quẩn”. Nó không thể có chỗ đứng, với giống người vật chất thể đặc của các con. Ngay cả đến Mẹ đã hơn ba tỷ năm nay sống “một bề” nuôi các con vẫn chưa hề được gặp Ngài. Vì sao vậy? Vì Đại càn khôn này là vô cùng vô tận, và ở cõi trời cao kia có hằng hà xa số những hành tinh như mẹ, những “người đàn bà vũ trụ”, “xinh đẹp, tài trí, đoan trang”. Mỗi một lần Ngài gặp lại mẹ có lẽ phải hàng tỷ năm ánh sáng. Ngài nghiêm khắc đến mức coi mọi lời thỉnh cầu của Mẹ xin được che chở các con “qua cơn bỉ cực” lần này như gió thoảng và những tiếng kêu cầu của Mẹ để các con được sống như những tiếng nói lạc loài. Vậy đấy, thế mà hàng ngàn năm nay các con cứ khăng khăng chỉ biết tới Ngài và trông đợi hoài ngày Đấng Cứu Thế (Thượng Đế) trở lại cứu vớt mạng sống của mình thì thật lầm lạc và hoang tưởng biết bao nhiêu!. Hãy sống với hiện tại từng giây từng phút, khi còn được sống làm người, đó là lời nhắn gửi của Mẹ tới các con. Sống sao để nhận cảm hết tình Mẹ trái đất, thì mới có cấu hình tình thương ba chiều như Mẹ, mà thương lẫn nhau và muôn loài vạn vật, những thành tố tự nhiên vật chất chứa trong lòng Mẹ trái đất của các con. Tình thương của Thượng Đế, cao siêu lắm, mang cấu hình của các chiều không gian đa chiều khác, mà chẳng bao giờ người ba chiều hiểu được. Ngài không có khái niệm tình thương, Ngài không có mục đích, Ngài là Đấng sinh thành Đại càn khôn. Ngài giao cho Mẹ sinh dưỡng và an bài cho các con đó.
Con yêu của mẹ, Mẹ nhắc lại câu này để tổng kết lại những gì mà các con đã đạt được về sự tiến hóa tâm linh “thụt lùi” trong lịch sử dài đằng đẵng đã thấm máu và thịt da các con:
“Con kiến mà leo cành đa, leo phải cành cụt, leo ra leo vào
Con kiến mà leo cành đào, leo phải cành cụt leo vào leo ra”
Cấu hình tư tưởng nhị nguyên phân sự vật, sự việc ra hai phần tương phản trắng đen, thiện ác, tốt xấu, phải trái, đực cái, hạnh phúc bất hạnh, giống như cái cành cụt trong câu ca dao trên. Cái thiện sinh ra vì cái cái ác lộng hành, cái tốt hiện hữu vì con đã bao lần làm việc xấu. Nếu ví cái tốt là đầu chóp của cành cụt kia, để con vươn tới, thì cái đầu cành cụt bám vào thân cây kia là xấu sao? Không có cái đầu bám vào thân cây, nơi đang có con chim gõ kiến, ăn kiến, nằm chờ, thì liệu cái đầu cành cụt, mà đàn kiến hy vọng chạy trốn kia, có tồn tại. Loài người cứ luẩn quẩn mãi với cấu hình tư tưởng này thì làm sao mà tiến hóa được. Nhất nguyên chủ thuyết cũng vậy, cứ hợp nhất mãi với muôn loài vạn vật cả ngàn năm nay, cứ chờ mãi chờ hoài, chờ kết quả thành công, chờ ngày có Đấng tối thượng Nhất nguyên về cứu, chờ đến bao giờ nữa đây? Khi mà đời sống của các con là đời sống vật chất thể đặc, vẫn cần cơm áo gạo tiền và các phương tiện sống khác phục vụ con người ba chiều. Những người thân yêu nhất của mình trong gia đình, con không giúp được mấy, mà lại hy vọng đi giúp người xa lạ và muôn loài thì xem lại cái cấu hình nhất nguyên đãng trí của các con đi.
Tình Mẹ là tình thương ba chiều, mang cấu hình các thành tố tự nhiên vật chất. Đất lành nơi con ở là tình yêu của Mẹ đượm trong đất, gió lành mang hơi Mẹ có ở muôn nơi, nước con uống là sữa Mẹ trong lành có ở mọi nơi trên thân thể Mẹ, lửa con sưởi ấm là nhiệt huyết của tình Mẹ, tinh tấn những hưng phấn thầm lặng trong trái tim con.
“Đất quê ta mênh mông, lòng mẹ rộng vô cùng”
Lời ca của đứa con ngoan, ca về tình Mẹ, bên bờ sông Mê Kông, mang nguồn sữa Mẹ từ Tây Tạng chảy về, trong thời khắc chiến tranh khốc liệt nhất ở quê lúa Việt Nam, đã thấm sâu tình Mẹ. Mẹ Trái đất thân yêu, Mẹ lượng thứ tất cả vì tình mẹ rộng đến vô cùng. Mẹ lượng thứ cho những đứa con chỉ biết ôm quá khứ mà sống, để rồi tự tôn thờ các danh hư ảo của chính mình. Mẹ thiết tha đôn hậu, từ bi, độ lượng với những đứa con lầm lạc của mẹ, chỉ biết sống cho tương lai để tích cóp vật chất, xây những lâu đài sang trọng cho những “bóng ma”. Mẹ là hiện tại và hiện tại là vĩnh hằng. Nếu hiện tại không vĩnh hằng thì trái đất và cả đại càn khôn không còn khái niệm. Hết tất cả!
Lòng Mẹ rộng đến vô cùng cũng chính bởi hiện tại các con đang làm đau lòng Mẹ, vì sự tàn phá vật chất trong lòng Mẹ của những đứa con vô minh không biết dùng dòng sữa Mẹ mà thăng hoa những giá trị tinh thần. Mỗi lần con dùng mũi khoan dầu cắm vào lòng Mẹ, Mẹ cắn đôi bờ môi mềm chịu đựng trong sự khoan dung vô lượng. Mỗi lần con dùng thuốc nổ, tàn phá những ngọn núi dòng kênh để xây dựng lâu đài “ma quỷ” lòng Mẹ lại ngẩn ngơ nuối tiếc. Hỏi xem các biệt thự sang trọng nhất ở thế gian này sẽ có ý nghĩa gì? Khi mà ở đâu đó, nơi Phi châu hay khắp các miền sơn cước trên thế giới này đang có hàng tỷ những đứa con của Mẹ đói khát vật chất đến kiệt sức và héo hon tinh thần đến bạc nhược. Lòng Mẹ quặn đau, khi mỗi lần con vô minh giẫm đạp lên xác mẹ, tàn phá những cánh rừng nguyên sinh có tuổi cả triệu năm ở Brazin và nhiều cánh rừng “tóc Mẹ” “phổi Mẹ” trên thế giới này, để trồng cây có dầu năng lượng sinh học (bio energy) nhằm chạy những xe hơi sang trọng. Khi con người còn thiếu ăn mà lại dùng lương thực chế ethanol chạy xe hơi với tiêu chí “nhiên liệu sạch” thì thật vô minh cho số phận đáng chết của các con. Thật quá ngạo mạn, phá luật Trời, xơ cứng tình thương.
Sữa mẹ từ núi tuyết
Chảy mãi triệu triệu năm
Qua chín cửa Mê Kông
Con đói hoài sữa Mẹ
Đã nhiều lần Mẹ phải thay đổi để có giống dân các con thể đặc ngày nay. Trước khi “phải” trở dạ làm sạch mình lần này, Mẹ đã thỉnh cầu ý Cha và Ngài chỉ mỉm cười. Lòng Mẹ lại một nữa tan nát và các con ơi! Mẹ nhớ thương các con vô ngần. Những tâm thức của những đứa con đã giải phóng khỏi tâm trí vô minh sẽ được hợp lại thành những cấu hình sự sống nguyên thủy, mà Cha đã gửi Mẹ lưu giữ từ ngày khai thiên lập địa, nơi mái nhà thế giới, được biết đến với khái niệm dễ hiểu núi tuyết. Cấu hình tư tưởng mới của con người ở thế giới ba chiều này có lẽ sẽ là “Ăn năng lượng vũ trụ, chơi với muôn loài, sinh sản đâm chồi và …” thì mới hy vọng dọn sạch được các thói hư tật xấu tích cóp vật chất để sống với quá khứ hoặc tương lai. Hãy sống với hiện tại vĩnh cửu đi, con sẽ hiểu được lòng Mẹ rộng đến vô cùng.

Ngọn lửa Trời sưởi ấm trái tim Mẹ và nguồn sống cho con

Hành tinh xanh này, cất giữ biết bao thành tố tự nhiên vật chất quý báu từ hàng tỷ năm nay, nào là dầu mỏ, khí đốt, khoáng sản và đặc biệt là bầu không khí trong lành cho sự sống muôn loài ở không gian ba chiều này. Sự sinh nở của Mẹ trái đất liên tục không ngơi nghỉ, khi ánh nắng mặt trời còn tỏa sáng trên bầu trời. Nguồn ánh sáng ấy là sinh lực càn khôn dành cho các con trên thế gian này thông qua tình Mẹ. Các con đã biết (theo tính toán khoa học) chí ít mặt trời cũng còn tồn tại khoảng 3 tỷ năm nữa và mới chỉ 0,023 % năng lượng mặt trời được sử dụng vào quá trình quang hợp để tạo sinh khối của sinh giới, thông qua “cuộc tình” của ánh nắng mặt trời với nước và các chất khoáng trong đất. Nơi hội tụ của “cuộc tình” tay ba đó là tế bào diệp lục có ở thực vật, từ tảo cho đến các cây cối các loại, mà Mẹ thay Cha trên trời nâng đỡ “mối manh”. Sự sinh nở của Mẹ nhờ tế bào thực vật, tế bào sản xuất thức ăn nguyên khởi, tạo ra nguồn sinh khối (biomass) là nguồn thức ăn cho muôn loài trong chuỗi thức ăn tự nhiên (food chain). Như vậy từ các thành tố tự nhiên vật chất, lửa (ánh nắng mặt trời), nước và đất thông qua tế bào diệp lục vi tế của lá cây, đã tạo ra nguồn thức ăn cho muôn loài. Loài động vật ăn cỏ, ăn thực vật và nó lại là mồi cho loài ăn thịt trên rừng. Tôm cua cá nhỏ, ăn rong tảo và làm mồi cho các loài cá ăn thịt dưới sông, hồ, ao và biển. Đứng trên của chuỗi thức ăn là con người và các con có biết bao nguồn thức ăn giàu có từ “rừng vàng biển bạc”. Các con có đặc ân được Mẹ trái đất và Cha trên trời không bắt phải làm thức ăn cho bất cứ loài nào trong chuỗi thức ăn, các con có biết không? Không những thế, các con còn đóng vai trò thay Mẹ phân phối thức ăn cho muôn loài, theo luật tự nhiên, nhờ trí khôn chứ không phải nhờ sức mạnh thân xác. Vậy mà các con lại tích lũy thức ăn không những cho đời mình, mà cho cả thế hệ con cái mình bằng “đồng tiền vô minh”. Những sinh thể đồng loại là con người của các con, ở các vùng giàu ánh nắng mặt trời, nhiều thức ăn nhất (các nước đang phát triển developing countries) lại thiếu ăn và đó là nghịch lý. Một nghịch lý thiếu đói lương thực và thực phẩm không đáng có, mà nguyên nhân là sự phân phối thức ăn cho nhân loại bị đồng tiền tham lam chặn lại.
Muốn hiểu Mẹ đang làm gì cho các con hãy lên rừng xuống biển mà tìm. Các con đã bất tuân luật tự nhiên dồn về các thành phố để sinh sống trong các căn hộ dạng “lồng công nghiệp” để tiếng khóc trẻ thơ bị át bởi tiếng máy gầm. Sử dụng các thiết bị công nghiệp sản xuất từ năng lượng hóa thạch cho cuộc sống “văn minh công nghiệp”, nên tâm trí các con đâu còn tính tự nhiên nguyên ủy nữa. Vì sao vậy? vì xa Mẹ, xa những thành tố tự nhiên vất chất: lửa, nước, đất, gió tinh nguyên, xa rừng xa biển. Khi nói đến Mẹ trái đất, các con xưa gọi là Mẹ là “hồn thiêng sông núi” và hãy suy ngẫm kỹ thông điệp này. Sự lầm lạc, lỗi trong tư duy của các con là coi núi sông chỉ là những vật vô tri. Núi tuyết ở Tây Tạng và núi ở biết bao vùng khác trên thế gian này đã ẩn chứa, cất giữ vốn gen nhân loại và các dòng sông nằm trải dài trên các lục địa đều ẩn chứa sữa Mẹ (nước tinh khiết), nuôi con và muôn loài sinh trưởng tốt tươi.
Chu kỳ các-bon mất cân bằng do tầng san hô dưới biển, “lá phổi” biển khơi bị tàn phá do hóa chất công nghiệp và sự khai thác bừa bãi của con người và bầu không khí trong lành bao quanh trái đất bị ám bụi khói công nghiệp đến ngạt thở. Từ đó dẫn tới băng tan ở hai đầu cực do hiệu ứng nhà kính (green house effect) làm trái đất nóng lên. Ai đã bất tuân luật tự nhiên đây? Nếu các con là nhà khoa học thì sẽ thấu hiểu điều này. Lòng mẹ xót xa khi phải chứng kiến “phổi” Mẹ dưới biển khơi, rừng san hô rớm máu, mà các con gọi là vấn nạn “thủy triều đỏ”, san hô chết âm thầm trong lòng biển. Rừng san hô dưới lòng các đại dương là sinh vật tích tụ và giữ khí các-bô- níc (Co2) để khí quyển bớt gánh nặng của chất khí độc hại này. Đó là “lá phổi Mẹ” dưới lòng biển khơi, với chức năng giữ cho chu kỳ các-bon được điều hòa, con có hiểu cho lòng mẹ không. Nếu giảm thiểu được khí thải công nghiệp, ngăn chặn được nạn phá rừng bừa bãi và quan trọng nhất là thay đổi thói quen chiếm hữu và khai thác ồ ạt nguồn tài nguyên hóa thạch để làm giàu vô nguyên tắc, thì số phận của các con thể đặc ba chiều sẽ “tự động” an bài. Mẹ không phải nặng lòng xoay mình (trái đất đổi trục) để sự sống của các con được toàn vẹn. Hãy họp và thỏa thuận với nhau đi, để cứu mạng sống của chính mình. Nếu lời nhắn gửi này của Mẹ tới các con bị lãng quên, thì hãy đừng bao giờ than thân trách phận nữa và đời là bể khổ chính vì lòng tham của con người.
Không có phép màu nhiệm nào có thể cứu được sự sống của nhân loại thể đặc ba chiều, tham lam, trừ khi tiềm năng của con người được khai mở, sự hiểu biết về những quy luật đơn giản nhất về sự sống trên trái đất, như đã trình bày ở trên. Mẹ dặn lại điều tối quan trọng này mà Ngài đã dặn mới đây “chỉ có con người mới giúp được con người” lúc này thôi.

Lòng Mẹ tan nát trước lúc trở mình

Mẹ không bao giờ có ý định rời bỏ các con yêu của Mẹ, cho dù các con, do vô minh đã “làm rỗng lòng Mẹ” để làm giàu. Và thực tế dưới đây có phải là “thành quả” khoa học của các con đạt được trong thế kỷ trước và hiện nay không?.
Tất cả các thành tựu khoa học mang lại đời sống văn minh vật chất ngày nay đều bắt nguồn từ việc sử dụng năng lượng hóa thạch, dầu mỏ, khí đốt, khoáng sản, những sản vật trong lòng đất, mưu cầu làm giàu nhằm thỏa mãn sự đòi hỏi của các giác quan, gọi là dục vọng của các con. Tình Mẹ rộng vô cùng thì con đã biết, nhưng các con làm ngơ một thực tế “lòng Mẹ (lòng đất) rỗng vô cùng”. Từ thế kỷ trước kéo mãi cho tới hiện nay, gọi là “những kỷ nguyên văn minh dầu mỏ” thì đã hàng tỷ tấn dầu và hơi đốt được các con hút ra từ lòng Mẹ trái đất và làm lòng Mẹ rỗng.
Các con đã chứng kiến các trận động đất kinh hoàng xảy ra trong những năm vừa qua và con có biết tại sao không? Quy luật của dịch chuyển địa tầng đó, phần rỗng trong lòng Mẹ được lấp đầy lại sau động đất, để Mẹ “sống”, mà Mẹ có sống, thì mới có sữa nuôi các con được. Hãy đừng trách Mẹ con nhé. Các trận bão typhoon khủng khiếp, những vòi rồng tonado chưa từng thấy đã tàn phá đời sống của các con, làm lòng mẹ quặn đau và các con có biết tại sao không? Các dòng nước biển nóng đối lưu bất thường do nhiệt độ trái đất tăng cao và thêm vào là áp lực khí quyển “hơi thở Mẹ” bị nhiễm bẩn bởi khí công nghiệp. Hậu quả làm cho chênh lệch khí áp diễn ra cục bộ liên tục, Mẹ phải “hắt hơi” để thải những tạp chất đó và giữ cho Mẹ được sống. Mẹ có sống mới có thể mang hơi ấm tình Mẹ dành cho các con. Hạn hán lụt lội khắp nơi làm cho mùa màng thất bát và cướp đi sinh mạng của nhiều đứa con vô tội, cũng là do chu kỳ các-bon đảo lộn và nạn chặt phá rừng bừa bãi, đến nỗi chim thú trên rừng hết nơi nương tựa mà sống. Nhiều loài có cả triệu năm nay có nguy cơ diệt vong. Mẹ phải ứa lệ (lụt) và rồi khóc than đến khô cả làn nước mắt (hạn hán) để chờ ngày các con ngộ ra “nọc độc” của lòng tham.
Bệnh tật thì sao? Từ người giàu đến kẻ nghèo ai cũng thấy bất an vì bệnh dịch, chiến tranh, khủng bố đe dọa và nhiều nguy cơ khác. Bệnh từ đâu mà nhiều như vậy? Từ sản phẩm chế từ dầu lửa và các khoáng chất độc hại (các kim loại nặng) có ở mọi nơi trong không gian sống của các con. Màu sắc của đồ ăn, đến hương vị công nghiệp thơm ngon trong đồ uống, rồi các chất bảo quản thực phẩm đều là sản phẩm của “cuộc cách mạng hóa học” chế từ dầu mỏ và khoáng chất độc hại. Dư lượng hóa chất đã quá lớn ngoài sức chịu đựng của tế bào và bệnh tật khó xác định nguyên nhân cứ âm thầm tìm gặp các con. Đất nước Việt Nam có cây dừa, nước dừa đọng trong trái cây này là kết quả di hành của nước từ lòng đất qua hàng tỷ tế bào thân lá dừa, sạch và bổ đến mức có thể truyền trực tiếp vào máu cho người bệnh. Vậy mà uống nước dừa lại bị coi là quê mùa và uống Coca mới được coi là hạng người sành điệu. Ai đã nhồi vào đầu các con những kiến thức kỳ quái này? Dân trí của thế hệ 8X ngày nay là vậy và tội cho các con đã nhiễm độc bởi những chiêu quảng cáo của ai đó vì lợi ích đã bất chấp cả tình thương đơn giản nhất của một con người. Phân bón và hóa chất nông nghiệp sản xuất từ dầu mỏ đã tàn phá môi sinh và ngay đến con cua, con ốc cũng chết tàn lụi ở những vùng thâm canh lúa nước quê nhà và khắp nơi trên thế giới.
Thân thể Mẹ đang được các con chia cắt thành từng mảnh và vì sao vậy? Người dân quốc gia nào thì biết quốc gia đó, chỉ biết làm hết mọi việc cho quốc gia, cho lợi ích quốc gia và đến dòng sông chạy qua quốc gia nào thì bị xứ dân đó “tóm cổ” chia cắt, làm đập giữ nước dùng cho riêng xứ mình. Mẹ ngẩn ngơ vì dòng sữa Mẹ bị tắc nghẽn. Long mạch (theo quan điểm đông phương) bị dập vùi trong nhơ nhuốc thì làm sao lòng người yên được. Tâm trí con người bị loạn thức, do có quá nhiều những cấu hình tư tưởng đan xen, chồng chéo và thêm vào những ảo giác của thế giới “đời sống kỹ thuật số”. Hậu quả là quá trình “số hóa” đời sống con người xuất hiện và con người hoạt động theo sự điều hành của máy móc điện tử. Các sóng điện hỗn loạt trong bầu khí quyển với các tần số khác nhau để đến ma thời nay cũng không còn đất để hiện hình. Ở Anh, một tờ báo cho biết khi có điện thoại di động ra đời, thì các hiện tượng ma xuất hiện giảm hẳn (theo điều tra khoa học). Ở Nhật Bản và các nước giàu có, tỷ lệ người tự tử, tự kỷ, tâm thần khùng điên tăng lên gấp bội. Tất cả là vì sao vậy các con? Có phải đó là hậu quả tàn phá môi sinh, đầu độc sự sống bằng hóa chất và số hóa đời sống con người đã dẫn đến thảm họa kinh hoàng này. Con người thời nay dường như đang đùa giỡn với mạng sống của chính mình hơn là sống.
Mẹ giận mà thương, vì đã bao ngàn năm nay, con lạc đường đi tìm Cha. Con đã đi quá xa để khi nhớ tới Mẹ thì không còn biết lối tìm về, hoặc kiệt sức khi tìm về với Mẹ. Nhưng con có biết không: Mẹ vẫn luôn giang cánh tay bầm tím do các các hành động vô minh của con gây nên, để được đón con về trong hơi ấm tình Mẹ bao la. Một ngày như mọi ngày chúng ta đang sống trong tình thương ấm áp và sự bao dung của Mẹ trái đất và bài viết này như một sự ăn năn của đứa con Vô Danh thiết tha tình Mẹ.

















Chương 2
BÀI HỌC MỚI - BÀI HỌC NGHỊCH LÝ

Nghịch lý muôn thuở

Nói theo cách nói của khoa học thì cơ thể con người thật hoàn hảo, nhưng vì sao con người vẫn nhiễm bệnh và đặc biệt thường xuyên đau khổ về tinh thần, cho dù bạn có điều kiện sống vương giả như các vị hoàng đế. Nói theo cách của các tôn giáo thì con người sinh ra phải chịu đau khổ và “đời là bể khổ”. Triết lý ấy xem ra có thể thỏa mãn được một thực tế là: dù bạn là ai, thành đạt hay không thành đạt trong cuộc đời này, bên cạnh cái gọi là “thành công”, bạn vẫn có nỗi khổ tế nhị của riêng mình và nỗi đau khổ lớn nhất không thể vượt qua, cho dù bạn có là tỷ phú đô la chính là quy luật muôn đời, “sinh lão bệnh tử”, không trừ một ai. Đời là bể khổ nhưng có một nghịch lý là: ai cũng muốn sống, ngay cả khi bạn lâm phải hoàn cảnh cùng cực, bất khả kháng như bệnh tật không qua khỏi, chờ chết, thì bạn vẫn khát khao được sống dù chỉ là thời gian ngắn ngủi. Câu chuyện ngụ ngôn về một lão tiều phu khốn khổ, vì quá cay cực đã cầu xin được chết cho thoát khổ, nhưng khi Thần Chết vừa xuất hiện, ông ta lại cầu xin Thần Chết gánh đỡ bó củi và xin được tiếp tục sống, loài người chúng ta quên rồi sao? Phải chăng, chỉ khi thực sự đối mặt với cái chết, con người mới cảm nhận được đích thực giá trị của cuộc sống? điều may mắn nhất là chúng ta đã được Ngài ban cho đại hồng ân, được sống làm người, để cảm nhận và hiểu biết về sự sống, để đóng góp vào sự sinh động của đời sống muôn loài do Đấng Tạo Hóa sinh ra trên quả địa cầu này. Nói đời là bể khổ, phải chăng nhân loại đã ngầm oán trách Đấng Tạo Hóa cho được sống làm người? Chủ đề thể xác con người là trường học vĩ đại, có sẵn trong bạn như là một món quà giúp bạn hiểu được triết lý về nghịch lý cuộc đời.
Có hai dạng cấu hình tư tưởng chính đang dẫn dắt hành động của con người đó là: vô thần “có tiền mua tiên cũng được” và hữu thần “đời là bể khổ” trong đời sống của nhân loại. Từ thực tế đó, hiện có ba xu thế chính mà con người đang sống đó là (i) xu thế vô thần, sống là để thỏa mãn các nhu cầu vật chất để khỏe mạnh và sung sướng với phương châm sống được lúc nào thì ráng được sung sướng và xu thế này dẫn đến sự cá thể hóa sự sống, mình biết mình và cố gắng thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần có thể, dựa trên căn bản tích lũy vật chất làm cơ sở để “có tiền mua tiên cũng được”. Xu thế (ii) hữu thần tuyệt đối, giải thoát, thoát ly sự ràng buộc vật chất, buông bỏ sự phụ thuộc vào vật chất, buông bỏ sự ràng buộc với gia đình, cộng đồng xã hội để mình hoàn toàn tự do hướng tới sự thiêng liêng của đời sống, hướng về giáo chủ, Thượng Đế mà mình tôn thờ, cầu nguyện hay thiền định để sống với nội tâm, để có thể được sự cứu rỗi che chở của các Đấng Thần linh vô hình. Rồi từ hai xu thế chính đó xuất hiện một xu thế trung hòa, trung lập đó là (iii) dung hòa giữa vô thần và hữu thần, vẫn đối mặt với đời sống thường nhật để có “cơm áo gạo tiền” nhưng thờ phượng các vị giáo chủ, Thượng Đế theo cách chọn lựa của riêng mình với chủ tâm được an toàn, được che chở của Đấng Thần linh và sẵn sàng bỏ vật chất, tiền bạc vì mục đích tâm linh. Bài viết này quan tâm đến những nghịch lý trong đời sống và từ đó xây dựng tầm nhìn mới về ý nghĩa của thể xác đối với đời sống của con người (đời sống tâm linh) để giúp bạn có những cơ sở triết học căn bản liên quan đến đời sống tâm linh và ứng dụng tâm linh vào đời sống hợp với căn cơ của bạn. Bài viết này hoàn toàn mang tính trao đổi học thuật về tâm linh vì người viết luôn quan niệm rằng tâm linh là một khoa học vi diệu có từ thời thượng cổ, bị thất truyền và vì vậy, nó chỉ còn lưu giữ một phần trong đời sống tôn giáo. Thật sai lầm khi cho rằng học hỏi nghiên cứu và ứng dụng tâm linh chỉ có thể thực hiện thông qua tôn giáo. Tâm linh đích thực là một nhu cầu thiết yếu của đời sống con người và ứng dụng tâm linh vào đời sống là yếu tố không thể thiếu giúp cho con người không ngừng tiến hóa, văn minh và an lạc.

Sức khỏe và đời sống tâm linh

Trong đời sống hàng ngày, con người thường quan tâm đến sức khỏe thể xác, chăm sóc cho thân xác khỏe mạnh bằng các chế độ dinh dưỡng phù hợp và dùng thuốc để phòng và trị bệnh, đây là cách làm tự nhiên. Thể xác có mạnh khỏe, thì mới có cảm giác trung thực về đời sống. Tuy vậy, có một nguyên nhân sâu xa liên quan đến sức khỏe mà ít khi con người nghĩ đến đó là đời sống tinh thần, đời sống tâm linh lành mạnh, trong sáng. Điều này có liên quan đến “kỹ thuật” vệ sinh não bộ để bình ổn tâm lý. Vì phần lớn nhân loại hiện nay do quá phụ thuộc vào các phương tiện vật chất để sống nên ốm yếu về sức khỏe tinh thần. Thật vậy, cuộc tranh đua làm giàu đặng “có tiền mua tiên cũng được” đang bộc lộ những bế tắc khi mà chu kỳ trái đất hiện nay đang rơi vào những thay đổi khó lường và nhiều loại rủi ro đang xuất hiện như rủi ro thảm họa tự nhiên, rủi ro tài chính (càng giàu nguy cơ mất tài sản càng lớn), rủi ro hóa chất do các dạng hóa chất độc hại đang xuất hiện với mức quá ngưỡng cho phép nhiều lần ở mọi nơi trên hành tinh này. Mất niềm tin cuộc sống, có nguyên nhân sâu xa từ rủi ro tâm linh, ngày một thể hiện rõ ràng trong sự bất an tâm lý của từng con người, bất an đoàn chủng, tôn giáo dẫn đến những xung đột trên tầm mức quốc tế. Tất cả những sự mất an ninh đó đang gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe con người gây sự hoang mang lo ngại, bế tắc trong đời sống tinh thần và là nguyên nhân thứ phát làm suy yếu khả năng tự kháng bệnh của cơ thể. Ngoài những sự trợ giúp của y tế, thì bài thuốc trị căn nguyên gây bệnh của mỗi chúng ta, đó là bài thuốc tâm linh. Học hỏi và ứng dụng tâm linh để khai thác tiềm năng kháng bệnh của cơ thể. Với tinh thần học hỏi tâm linh để tự nhiên hóa đời sống tinh thần, để có tâm hồn trong sáng và đi kèm là sức khỏe tốt, để sống hạnh phúc và an bình.
Chức năng của các tế bào sống trong cơ thể là duy trì sự tồn tại của thể xác. Sự chung sống, hợp tác giữa các tế bào sống (khoảng 100 ngàn tỷ tế trong cơ thể con người, tập hợp thành thể xác vật lý con người) là một việc không dễ. Vì sao? Vì các tế bào sống nhóm lại thành các mô (giống như các thành viên trong cộng đồng), nào là mô gan, mô thận, mô thần kinh, mô tim và các mô này biệt hóa chức năng, mỗi mô một nhiệm vụ để duy trì chức năng sống của nó và toàn bộ cơ thể. Vị nhạc trưởng điều phối dàn nhạc sự sống thể xác là các mô thần kinh, là não bộ. Vệ sinh não bộ là việc quan trọng nhất, vì nếu vị “lãnh đạo” này trục trặc chức năng là các bộ phận hệ lụy khác sẽ “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” và sinh bệnh. Các thống kê y học cho thấy nếu não bộ ở trạng thái cân bằng, không trục trặc thì con người có thể tự thoát bệnh (miễn dịch) tới 75%. Người ta nói không sai là bạn sẽ là “bác sỹ” của chính mình. Để trở thành bác sỹ cho mình, bạn cần phải học hỏi tâm linh, hiểu biết về bản chất sự sống và để trả lời một câu hỏi đơn giản “bạn sống để làm gì?”. Học hỏi tâm linh là học hỏi về vai trò của khối năng lượng vi tế điều khiển đời sống tinh thần của bạn. Một đời sống tinh thần đủ mạnh và trong sáng là điều kiện cần và đủ để bạn trở thành bác sỹ của chính mình.
Đời sống tinh thần an lạc và tràn đầy xúc cảm thánh thiện có cấu hình (form) đặc biệt và có sức mạnh (power), sức mạnh vô hình, dời non lấp biển và được kiểm soát bởi những lực lượng tự nhiên vô hình. Học hỏi tâm linh là học hỏi triết lý về sự sống và vũ trụ, học hỏi các sức mạnh siêu nhiên kiểm soát vận hành không chỉ đời sống vũ trụ mà cả đời sống của mỗi chúng ta. Thật vậy, mỗi chúng ta đều có một thang giá trị tinh thần vô hình ẩn chứa trong ta, đó là lương tâm. Thành tố lương tâm trong cơ thể con người hoạt động vô hình, ngoài ý thức con người. Chỉ biết khi cần thiết, nó giúp ta thoát khỏi bệnh tật, nó cản ta sản sinh các ý nghĩ ác, nó an ủi vỗ về ta khi gặp hoạn nạn, nó làm cho ta mang bản chất tự nhiên của đời sống. Lương tâm chính là thành tố tự nhiên ẩn chứa trong mỗi con người. Học hỏi tâm linh là để nâng cánh cho thành tố tự nhiên này thăng hoa, tỏa sáng. Những người có đời sống tâm linh mạnh, có tâm hồn trong sáng thường ít bị bệnh và nếu bị bệnh cũng dễ qua khỏi. Vì sao vậy? Vì sức khỏe tinh thần là nền tảng cho các xu thế trao đổi chất tự nhiên, nâng cao khả năng kháng bệnh khi cơ thể gặp phải. Khi gặp phải bệnh hiểm nghèo, không phương thuốc nào cứu được, thì bạn dựa vào đâu để sống đây? Bạn sẽ phải dựa vào tiềm năng kháng bệnh của chính mình. Khi có sự hiểu biết đầy đủ về sự sống theo quan điểm khoa học tâm linh và trên nền tảng một niềm tin mãnh liệt vào chính mình, bạn sẽ là bác sỹ của chính mình để vượt qua những khó khăn thử thách, kể cả vượt qua cửa tử. Một đời sống tinh thần tự nhiên trong sáng là cách phòng bệnh từ xa tốt nhất không cần đến nhiều thuốc men để tránh phản ứng phụ (site effect), đó là lời khuyên của tác giả dành cho bạn đọc.
Đời sống tinh thần tự nhiên, an vui đồng nghĩa với gia tăng sức mạnh vô hình của niềm tin sự sống. Nhờ có niềm tin trên cơ sở hiểu biết đủ ngưỡng về sự sống, mà những giá trị tinh thần được thăng hoa tỏa sáng, bệnh tật được kiểm soát. Thật vậy, khi có một bệnh xuất hiện trong cộng đồng, con người thường hoảng sợ, né tránh cũng là tự nhiên. Nhưng vì chưa hiểu đầy đủ ý nghĩa triết học của bệnh tật nên nỗi lo sợ cứ còn đó. Chính sự lo sợ ấy đã như một vòng xoáy, làm cho hệ thống miễn dịch của cơ thể yếu đi và bạn dễ mắc bệnh hơn, đó là kết luận của khoa học. Vậy ý nghĩa của bệnh tật là gì? Bệnh tật, vi trùng, vi rút gây bệnh luôn đồng hành với đời sống con người từ khi con người còn ở trong lòng mẹ đến khi giã từ cõi đời. Nhờ có các loại vi trùng mà cơ thể con người, hệ thống miễn dịch của con người, luôn ở trạng thái “thức” để tạo ra sự miễn dịch, bảo vệ sự sống con người. Con người, ai cũng như ai, thường mang trong cơ thể mình vi trùng đủ loại, nhưng không dễ phát bệnh vì số lượng vi trùng ấy dưới ngưỡng gây bệnh. Yếu tố đảm bảo sự cân bằng dưới ngưỡng ấy, do hệ thống miễn dịch kiểm soát và có liên quan vô cùng chặt chẽ với hệ thống thần kinh, yếu tố tinh thần của con người. Những khi lo sợ thái quá, hay bị khủng khoảng tinh thần chính là thời cơ tốt nhất để vi trùng gia tăng số lượng, đạt ngưỡng phát bệnh. Thực tế, trong nhiều trường hợp, mặc dù có vi trùng trong cơ thể, nhưng bệnh tật không phát vì nó không có đường dẫn để phát triển. Đường dẫn đó là gì? Là sự thiếu hiểu biết về ý nghĩa của bệnh tật trong đời sống và từ đó chưa đưa ra được cách phòng ngừa thích hợp với bệnh tật.
Câu chuyện về vai trò của núi lửa đối với sự sống của trái đất cũng tương tự như vậy, Núi lửa là nguyên liệu khởi nguồn cho sự sống muôn loài mà có thể bạn chưa biết. Nếu ai cũng nghĩ là núi lửa có hại và ai cũng sợ núi lửa thì thật là vô minh. Vì sao? Cách đây 700 triệu năm vào thời kỳ Băng hà, nhiệt độ trái đất trung bình khoảng âm 50 0C, sự sống của muôn loài trên quả địa cầu này có nguy cơ tàn lụi trong băng giá. Nhưng rồi sau đó, khoảng 650 triệu năm trước, nhờ khối lửa hừng hực trong lòng Mẹ trái đất phun trào, thời kỳ núi lửa hoạt động dữ dội nhất trong lịch sử và thải ra bầu khí quyển một lượng lớn khí các-bô-níc Co2, và chính nhờ khí “độc hại” này, mà nó giữ năng lượng từ mặt trời, làm ấm bầu khí quyển để cứu trái đất chúng ta khỏi nạn Băng hà vĩnh viễn. Sau đó là thời kỳ băng tan, trái đất nóng dần từ thái cực âm 50 0C sang thái cực dương 50 0c, mưa gió, bão lụt xảy ra khủng khiếp. Rồi sau đó, khí hậu dần ổn định, muôn loài phát triển rực rỡ, đưa sự sống trên trái đất trở lại một thời kỳ phát triển và tiến hóa mới. Nạn Hồng Thủy chính là cái ý này. Nhưng với tầm nhìn mới tạm gọi là tầm nhìn nghịch lý, thì sự sống của muôn loài trên thế gian này gắn liền với sự hoạt động của núi lửa và nếu không có núi lửa hoạt động vào thuở ấy thì liệu có bạn và tôi ngày hôm nay? Cái gọi là nạn Hồng Thủy thuở ấy chính là cái nghich lý ở tầm mức vĩ mô đã cứu sự sống trái đất và thiết lập một trật tự mới của đời sống muôn loài như ngày nay. Loài người và muôn loài phải “đội ơn” núi lửa thuở ấy chứ! Chúng ta quên rồi sao? Học hỏi tâm linh là học hỏi những tri thức loại này và như vậy mới thoát được cái bẫy “mê tín dị đoan”. Động đất, núi lửa, sóng thần, dịch bệnh và những thảm họa khác đều có ý nghĩa của nó và trong dòng tư duy ấy, bạn đọc sẽ được cập nhật những tri thức như vậy bằng nhiều cách từ các phương tiện và hình thức khác nhau media resources nếu bạn muốn và sẵn sàng học hỏi. Hiện nay, nhiều bạn đọc lo sợ không biết sự thay đổi khí hậu toàn cầu như hiện nay sẽ dẫn đến kết cục gì đây cho đời sống muôn loài và sự sống của chính chúng ta. Xin tiếp tục học bài học nghịch lý và tự bạn sẽ có câu trả lời.

Học nghịch lý

Phần lớn nhân loại xưa và nay, thường coi mình (sự hiểu biết của cá nhân) như là một chuẩn mực, khung giá trị cá nhân, được học được từ xã hội và từ đây nhìn nhận, đánh giá sự vật sự việc, đó là thói quen tư duy đã dẫn đến những sai lầm không đáng có. Vì vậy, con người thường chỉ chấp nhận những điều hợp với mình, thỏa mãn được khung giá trị của mình. Con người chỉ học hỏi những cái mà mình muốn, điều này là tự nhiên. Nhưng đời người ngắn ngủi “người ta hoa đất, chưa nở đã tàn”, cuộc đời đặt ra có bao điều cần học và câu hỏi đặt ra là bắt đầu học từ đâu? Từ cái gì đây?. Xin hãy học từ những điều trái với ý muốn của bạn, luôn hiện hữu và thường xuyên đồng hành với đời sống của bạn. Nói một cách tâm linh hơn, thì chính những bài học nghịch lý xuất hiện hàng ngày trong đời sống của bạn, bạn không thích nó, lại là “Thiên ý” gợi ý cho bạn con đường học ngắn nhất để bạn tiến hóa mà bạn không biết. Cho rằng bạn là một người thông minh, chỉ số IQ vượt trội đi, thì bạn cũng không thể học hết được những bài học cuộc đời, vô cùng sinh động và thường xuyên thay đổi với ý nghĩa cập nhật những điều vi tế, thú vị của cuộc đời, thiên nhiên, vũ trụ. Bể kiến thức vũ trụ mênh mông, khôn cùng là có thật (sẽ nói cơ chế hình thành ở phần sau) và nhu cầu học của một đời người chỉ là một giọt nước trong cái bể vĩ đại này của càn khôn.
Trong thực tế đời sống, con người thường từ chối với những nghịch lý cũng là tự nhiên. Nhưng không thể từ chối được tất cả. Bạn nghĩ sao khi những người vô tội bị chết bom trên đường phố hay chết thảm thương vì các tai họa tự nhiên như động đất, sóng thần và biết đâu một ngày nào đó bạn cũng gặp những tai họa, những nghịch lý này. Phải học thôi bạn a! Có học được bài học nghịch lý, cùng “đồng hành” và thích nghi với nó, chúng ta mới đặng được an toàn và vô hại. Nếu bạn biết học từ những “nghịch lý” thì bạn sẽ có trong tay cơ hội tiến hóa rất nhanh và nó sẽ mang lại cho bạn một đời sống hạnh phúc an lạc, thấm đượm chất tự nhiên vốn có của sự sống.
Phương pháp học thuận lý được loài người áp dụng trong mọi ngành nghề và điều này đã mang lại những thành quả rất đáng ghi nhận. Với phương châm cái gì mang lại lợi ích vật chất, mang lại những giá trị tinh thần thì học và áp dụng, điều đó là tự nhiên. Tuy vậy, phương pháp này rất dễ lâm phải nguy cơ giáo điều và giảm đi tính sáng tạo của con người. Vì sao? Vì tưởng rằng nền văn minh vật chất này là tất cả, nhưng không và chính nó đã dẫn tới những thảm họa môi trường mà cả triệu năm sau chắc gì đã khôi phục lại được trạng thái sạch, tự nhiên ban đầu của nó. Thật đáng khâm phục cho những công nghệ còn trên cả ma thuật như công nghệ nano, công nghệ siêu vi tế, ứng dụng trong công nghiệp gọi là “công nghệ siêu cao” ứng dụng trong thông tin và tự động hóa và nhiều ngành nghề khác. Công nghệ tế bào, nuôi tế bào gốc (stem cell) trong ống nghiệm để thay tạng hư của bệnh nhân. Công nghệ vật liệu để tạo cái thang siêu nhẹ và bền, để nối trái đất với vũ trụ (dự án mới này sẽ được khởi nay mai dưới sự tài trợ của Nhật Bản và nhiều nước khác) để khai thác tài nguyên ngoài vũ trụ và chuyển các tài nguyên vũ trụ như tài nguyên ở mặt trăng và các hành tinh khác về trái đất với chi phí thấp so với chi phí dùng tàu vũ trụ vận chuyển. Rồi bạn sẽ thấy mặt trái của các thành tựu này, sau khi nó đưa vào ứng dụng, có thể phương hại đến chính sự sống của con người.
Trở lại khái niệm học tập, vì các ngành nghề trong xã hội đã phát triển đến những đỉnh cao, đời người thì ngắn ngủi, học cho xong một ngành nghề để tạm gọi là thạo nghề mất khoảng 1/3 cuộc đời. Ra đời, dùng nghề để kiếm kế sinh nhai, tồn tại và khi luống tuổi, giật mình tự hỏi “mình sống để làm gì nhỉ?” rồi cô đơn, đối mặt với bệnh tật và với cái chết. Khái niệm sống để học hỏi và tiến hóa, thăng hoa những giá trị tinh thần dường như không mang lại lợi lộc vật chất, nhưng nó đích thực là tối cần thiết đối với sự sống của mỗi con người chúng ta. Vì sao? Vì vật chất chỉ là phương tiện để sống và học hỏi. Nếu quá chú tâm vào làm giàu mà làm giàu đâu có dễ, thì khó có cơ hội để thoát ra khỏi sự chú tâm đó, để học những điều minh triết trong đời sống. Đối với những người giàu, họ có nhiều phương tiện vật chất nhưng đâu có dễ an nhiên vì phương tiện không biết học và chỉ chủ của phương tiện mới cần phải học. Giàu mà không sang, giàu mà đói khát tình thương, giàu mà mất an ninh tâm linh thì cần cân nhắc lại. Suy rộng ra, cuộc đời không phải là bể khổ như người đời thường nói, mà cuộc đời là một bể học, học mãi không nguôi. Khổ là do ngại học hoặc chưa biết học.
Phương pháp học nghịch lý dường như thỏa mãn được cả hai mục đích trong đời sống con người “học để tồn tại, để kiếm kế sinh nhai” vì lợi ích trước mắt (short term benefit ) và “học để thích nghi” vì lợi ích lâu dài (long term running), thích nghi (adaptation) và tiến hóa (evolution) Vì sao? Vì các phát minh sáng tạo, kỹ thuật mới, công nghệ mới ra đời đều xuất phát từ những điểm yếu, bất lợi, lạc hậu (nghịch lý) của các phát minh trước đó, công nghệ cũ và đích thực học từ nghịch lý là cơ sở để sáng tạo. Các thống kê của nhân loại về những phát minh đều xuất phát từ những “ngoại lệ” hay nghịch lý với kiến thức loài người khi phát minh đó ra đời. Trong đời sống tâm linh cũng vậy, phần đa các vị triết gia, giáo chủ đều có gốc từ một triết học hay một đạo giáo nào đó (cũ), nhờ biết học từ những nghịch lý, cái sai khởi nguyên, mà các Ngài đã tìm ra cái mới nhanh nhất để thoát khỏi sự ràng buộc “giáo điều” làm mất sự tự do sáng tạo của các Ngài. Từ đó các học thuyết mới, các triết học và tôn giáo mới ra đời. Lịch sử triết học, khoa học và tôn giáo đã ghi nhận điều này. Những người sáng tạo đích thực là những người “phản bội” cái nôi khởi đầu của họ, thế mới là nghịch lý cần học. Thực ra đó là sự kế thừa sáng tạo. Tỷ lệ nhân loại biết học kiểu nghịch lý rất thấp, nhưng nhờ sự tỏa sáng vô hình của các kiến thức minh triết từ những cá nhân xuất chúng đã ảnh hưởng đến xã hội. Đặc biệt những sáng tạo của những người “vô danh”, thì sự hiểu biết của họ còn được lưu giữ tự động vô hình vào bể kiến thức tự nhiên của vũ trụ. Hãy đừng lo, sao một ý nghĩ thánh thiện của mình, một đóng góp thiện lương của mình, một sáng tạo của mình không được đăng tải, không được mọi người biết đến. Đã có “nhà xuất bản vô hình tự nhiên” đăng tải, nhập vào kho lưu trữ vĩ đại, bể kiến thức vĩ đại của nhân loại, của vũ trụ. Vào một lúc nào đó khi nhân loại cần đến, tiềm năng con người được khai mở, sẽ có những người có khả năng nhận kết nối (connection) với bể kiến thức vũ trụ, dưới dạng sự phát tiết, những cảm nhận vi tế, sự sáng tạo dạng “thần đồng” để in ấn trong các nhà xuất bản ba chiều, bằng chữ viết, bằng lời nói để nhân loại ứng dụng. Cơ chế của sự hình thành bể kiến thức vũ trụ chính là điều đơn giản này. Càng vô danh và hành động vô danh vì mọi người một cách vô điều kiện, càng được “nhà xuất bản vô hình” tiếp nhận sự sáng tạo của bạn. Đây chính là chìa khóa diệu kỳ cho bạn để bạn thực hiện vô danh triệt để. Xin tiết lộ thêm ý tứ này để mọi người cùng suy ngẫm, những người có những khả năng tâm linh đặc biệt, nhưng vì xưng danh xưng tánh, nên các khả năng đặc biệt ấy thường chỉ duy trì một thời gian ngắn và sau đó là một sự khủng khoảng tâm linh. Vô danh đồng nghĩa với sự bền vững của những khả năng đặc biệt.
Không ai trong giới triết học lại không biết đến hai học thuyết vĩ đại của nhân loại, đó là “học thuyết tuyệt đối” và “học thuyết tương đối”. Ở một khía cạnh tế nhị thì cả hai học thuyết này cũng chỉ là sự vòng vo, nếu không nói là cố chấp. Vì sao? Vì cái đích cuối cùng đều tìm đến kết quả và biện minh cho kết quả đạt được. Một kết quả chịu ảnh hưởng bởi nhiều nguyên nhân và một kết quả mới sinh ra có khi lại phủ định nguyên nhân sinh ra nó. Và chính kết quả đó, lại là hệ lụy của nhiều kết quả tiếp theo. Nếu bỏ phần suy xét kết quả thì hai học thuyết lừng danh đó đâu có đố kỵ như lửa và nước và nó đích thực là hai bộ phận tương hợp của quá trình nhận thức của nhân loại về sự sống và đời sống vũ trụ xét theo một khía cạnh nào đó. Nói dễ hiểu hiểu hơn, những nghịch lý của thuyết tuyệt đối lại tìm và thấy lời giải trong thuyết tương đối và ngược lại. Quả đất này tĩnh hay động đây? Rõ ràng là động, là biến đổi là tương đối rồi. Nhưng với tầm nhìn “đại càn khôn, vô cùng vô tận” thì kích thước của trái đất trở thành một điểm, không có kích thước, vậy còn đâu khái niệm tĩnh và động nữa. Người biết học từ nghịch lý luôn tìm thấy cái mới, vì ngay sau khi tìm thấy cái mới, họ đã thấy nó bất cập (out of date) hay nói dễ hiểu hơn là họ sớm thấy được cái nghịch lý tiềm ẩn và cái mới khác lại ra đời nhờ giải phóng năng lượng thời gian tự do trong quá trình sáng tạo của não bộ. Học từ những bế tắc, đau khổ của chính mình, những suy nghĩ ác của chính mình là cách học nhanh nhất để tiến hóa, để tiềm năng con người khơi dậy sự sáng tạo, để hạnh phúc ngập tràn trong sự an lạc đến vô cùng. Đó đích thực là biết học và biết học từ nghịch lý sẽ sớm đạt tới minh triết.

Sáng tạo và đại lượng thời gian

Con người có ba nhu cầu cơ bản đó là sống để thỏa mãn (i) nhu cầu sinh học cơ bản, ăn uống, sức khỏe, có các cơ sở vật chất tối thiểu để sống và “sinh con đẻ cái” (ii) nhu cầu phục vụ xã hội, để có cái danh, là ông nọ bà kia, để mình có vai trò trong xã hội (iii) nhu cầu sáng tạo, dường như không có mục đích, nếu có thì chỉ nhằm cho sự thăng hoa, tỏa sáng những tiềm năng vô hình, ẩn chứa trong con người với những khía cạch khác nhau, chủ đề khác nhau, muôn hình vạn trạng. Đó là tổng kết khoa học của ngành tâm lý học.
Sáng tạo là sự hợp thì, hợp thức với đại lượng thời gian. Sự sống của muôn loài và con người trên thế gian này, cõi ba chiều này, tạm gọi như vậy, thì chịu sự điều khiển của quy luật thời gian, đại lượng thời gian. Sáng tạo của bộ não con người là hiện tượng giải phóng năng lượng tự do hàm chứa vô hình trong não bộ và tạm gọi là giải phóng năng lượng thời gian tự do. Vì vậy ai cũng biết, người ta chỉ sáng tạo dù việc nhỏ đến việc lớn khi não bộ của họ ở trạng thái hoàn toàn tự do. Năng lực sáng tạo là thuộc về phạm trù triết học thời gian, đây là điểm mới khó vượt qua đối với tư duy truyền thống.
Xin bắt đầu với câu chuyện dòng sông, con thuyền và người lái đò. Dòng sông ví là đại lượng thời gian, con thuyền trôi trên sông là thể xác con người và người lái đò là thành tố tự nhiên (hay linh hồn). Mối quan hệ giữa dòng sông, con thuyền và người lái đò thật sinh động. Có một người lái đò (thành tố tự nhiên) nương vào con thuyền (thể xác) trôi theo dòng sông (dòng thời gian) để ra biển cả (cảnh giới niết bàn). Dòng sông khi đầy khi vơi, tốc độ dòng nước chảy quy định tốc độ của con thuyền trôi trên sông nhanh hay chậm. Năng lượng thời gian vi tế ẩn chứa trong vật thể và tùy thuộc vào cấu trúc không gian của vật thể mà nó “trôi” hay giải phóng năng lượng nhanh hay chậm, nhiều hay ít hoặc ngừng “trôi”. Và mối quan hệ giữa thời gian (dòng sông) và thể xác (con đò) là mối quan hệ hợp thì, đồng biến. Con đò thể xác hoàn toàn đồng hành với quy luật thời gian. Trẻ hay già là phụ thuộc vào thời gian vào năng lượng thời gian ẩn chứa trong thể xác và cách vận hành vi tế của năng lượng thời gian trong thể xác. Theo dòng sông thời gian, người lái đò quan sát những sự kiện diễn ra trên sông và đôi bờ, từ đó học được bao điều thú vị (cách học học thuận lý truyền thống để tiến hóa).Vì con đò trôi xuôi theo dòng chảy thời gian (thuận lý, học cái tốt), nên người lái đò không mất sức chèo đò, chỉ điều khiển con đò đi đúng hướng về phía biển cả. Học thuận lý là cách học truyền thống, học nhờ học gửi, từ kiến thức và kinh nghiệm của người khác, nên mọi người ưu thích và cái đích là biển cả (niết bàn) cũng đã có sẵn, được các định hướng do những cá nhân kiệt xuất, các minh sư, các giáo chủ chỉ cho biết trước. Mong đợi, kỳ vọng ra tới biển khơi (thoát khỏi sự chi phối của đại lượng thời gian) sẽ còn được chứng kiến những điều kỳ diệu hơn. Nhưng thật nghịch cảnh, khi thoát khỏi dòng sông thời gian (tạm gọi là ngộ), con đò lênh đênh ngoài biển cả, không biết đi đâu về đâu (thể xác trở thành cát bụi, nguyên liệu cho cấu tạo vũ trụ), vì nơi xa khơi ấy chỉ toàn là nước, gió và sóng cả. Người lái đò kia (sau khi chết linh hồn vẫn tồn tại) cảm thấy cô đơn đến tận cùng và lại nhớ về dòng sông thời gian có đôi bờ xinh đẹp. Xu thế chung là các linh hồn sau khi chết là muốn đầu thai tái kiếp lại để tiếp tục học hỏi tiến hóa. Đoạn đầu câu chuyện này, muốn nói về những khát vọng siêu thoát khỏi đời sống trần gian (đời sống chịu sự chi phối của đại lượng thời gian) của những ai đã và đang học hỏi tiến hóa trong cách học thuận lý, học cách tiếp cận với chân lý theo cách tư duy truyền thống. Nếu coi việc vượt dòng sông thời gian để đến với biển cả là “quá trình ngộ” là đến với cảnh giới niết bàn hay thiên đàng, thì ở đó không có gì ngoài những thành tố tự nhiên, “kho nguyên liệu” để cấu tạo vũ trụ và sự sống muôn loài. Người lái đò kia quyết định quay thuyền trở lại với dòng sông thời gian để được sống với cuộc sống trần gian (linh hồn được toại nguyện tái kiếp tái trở lại để học hỏi ở cảnh giới trần gian). Được tái kiếp làm người lần này, người lái đò (linh hồn tái kiếp) phải vật lộn với sóng to, bão lớn tìm về dòng sông tuổi thơ năm nào, lần này người lái đò phải đi ngược dòng sông (học nghịch lý), người lái đò mới hiểu ra một điều đơn giản là nhờ đi ngược dòng sông nên mới cần nhiều sự sáng tạo. Vất vả nhọc nhằn đấy, nhưng ăn ngon, ngủ yên. Vì chú tâm vào việc ngược dòng sông, nên những sự kiện sinh động (những cám dỗ) diễn ra trên sông và ở đôi bờ cũng không còn có ý nghĩa lớn (thoát khỏi sự ràng buộc của vật chất và chỉ coi nó là phương tiện duy trì thể xác). Chỉ còn có con đò và người lái đò vượt bao ghềnh thác để về với miền quê hương thôn dã thuở nào, nghèo hèn mà nồng thắm mùi rạ lúa được nắng và tắm trong hương đồng gió nội. Tìm về cội nguồn nơi trần gian có sự sống, có con người để tìm ra ý nghĩa của thể xác (con đò) và hiểu được đại lượng thời gian chi phối sự sống cũng co dãn như hơi thở của đất trời. Quả thật khi xuôi dòng, tạm gọi là thời gian giãn, người lái đò dường như không nhận ra sức mạnh, năng lượng khủng khiếp của nước. Có được dòng nước trôi để đẩy con đò đi, là kết quả của sự vận hành chuyển hóa của nước theo quy luật tuần hoàn vĩ đại của tự nhiên. Hay đấy, thú vị đấy, nhưng vẫn là sống gửi ăn nhờ vì các nghịch của nước lý, năng lượng thời gian hàm chứa vô hình trong nước vẫn chưa học được. Khi ngược dòng, thời dãn co tạm gọi như vậy, người lái đò kia mới hiểu ra rằng dòng sông thời gian kia hàm chứa sức mạnh to lớn đến nhường nào. Có ngược dòng, học nghịch lý người lái đò mới có cảm nhận thật về tự nhiên, về sức mạnh tự nhiên, về khả năng tiềm ẩn của con người để khám phá tự nhiên và sự sống động, vi tế của sự sống mà Đấng Tạo Hóa đã ban cho muôn loài. Hai đại lượng thời gian và không gian là hai “vật liệu càn khôn” vi tế nhất, mà Đấng Sáng Tạo dùng để vận hành vũ trụ và sự sống. Bạn đọc thân mến, dường như những thay đổi của chu kỳ trái đất lần này ví như con đò ngược dòng sông ở phần hai của câu chuyện này, để mỗi chúng ta ngược dòng thời gian về với “quá khứ” cách đây hàng triệu năm, tạm gọi như vậy, để thực hiện một sự thay đổi và tiến hóa mới của hành tinh xanh và sự sống muôn loài. Bạn đã sẵn sàng vượt dòng chưa? Và bạn chuẩn bị hành trang như thế nào cho cuộc Đại tạo lần này? Điều ấy phụ thuộc vào bạn.
Đại lượng thời gian luôn co dãn, lúc này thời gian đang co, năng lượng tự do của đại lượng vô hình này đang giải phóng, tạo ra hoàn cảnh mới và thay đổi, xét theo bình diện vĩ mô của trái đất và vũ trụ. Bạn thấy đó, biết bao sự kiện nào là băng tan, mực nước biển dâng, động đất sóng thần, bão tố (siêu bão), hạn hán, dịch bệnh đã và sẽ còn xảy ra. Và thế giới, nhân loại đang phải đối mặt với những đe dọa này. Phải học, học nghịch lý để hiểu vì sao lại có những thay đổi này và cái chìa khóa để trả lời là tìm ra ý nghĩa của các nghịch lý. Thật vậy, nhiều người hỏi tôi vì sao lúc này thấy cái gì cũng dở, nhiều cái ác xuất hiện, vì lợi nhuận người ta vẫn “tự tin” đưa chất độc melanine vào sữa để bán. Đầu tư làm ăn thì rủi ro kinh tế, ô nhiễm môi trường lên đến cấp báo động nguy hiểm, ở một số vùng nhạy cảm bom cảm tử có thể sảy ra bất kỳ lúc nào kể cả những nơi được canh phòng cẩn mật. Ở đâu cũng thấy bất an, rủi ro với thảm họa tự nhiên vì một cú va chạm của thiên thạch, “hạt bụi vũ trụ” kiểu thời Khổng long thì rồi sẽ ra sao. Chúng ta chưa hiểu được Đấng Sáng tạo là bao, khi mà chưa biết học nghịch lý để tìm ra ý nghĩa của các nghịch lý trong vũ trụ, trái đất và sự sống muôn loài. Loài người sai lầm hay sao, khi trở thành thế lực, lực lượng làm thay đổi thế giới theo con đường phát triển nền văn minh vật chất. Chưa hẳn như vậy, vì bản thân con người cũng là thành tố của tự nhiên. Sự thái quá trong phát triển công nghiệp, mà nói ngắn gọn lại là giải phóng năng lượng thời gian vi tế trong dầu mỏ để phát triển kinh tế (khoảng 200 năm gần đây) phải chăng đang được chi phối bởi “lực lượng đen” nào đó thuộc về bản chất của vũ trụ. Học nghịch lý là học cái “đen” tạm gọi như vậy, để dùng cái đen, cái dở, cái ác làm nguyên liệu cho sáng tạo, cho sự hài hòa tự nhiên. Dựa vào cái khung giá trị đúng sai, thiện ác để suy xét để hành động, thì rồi lại đi từ thái cực này sang thái cực khác, như câu chuyện “con kiến mà leo cành đa, leo phải cành cụt leo ra leo vào” thì cần được xem lại. Đứng trên bình diện đúng sai mà nhìn nhận sự vật sự việc đặng có giải pháp thỏa đáng để lập lại cân bằng tự nhiên trong đời sống muôn loài mới là điều cần bàn trong tình thế hiện nạy
Thế giới vật chất ba chiều hoàn toàn phụ thuộc vào năng lượng thời gian. Khi bạn thấy thời gian trôi nhanh là lúc bạn chú tâm vào những công việc mang tính sáng tạo. Khi bạn thấy thời gian trôi chậm, ấy là lúc bạn có cảm giác buồn chán, cô đơn vì não bộ bạn đang làm việc thiếu sự sáng tạo. Năng lượng thời gian vô hình ẩn chứa trong bạn không được giải phóng, ứ đọng và gây cho bạn sự thiếu vắng cái mới, nhàm chán vì thiếu sự sáng tạo. Các quy luật thời gian ở các cảnh giới khác, không gian tâm linh khác, chưa ai biết được một cách cụ thể và nếu có, thì chỉ là những mô tả “mờ mờ ảo ảo” “thực thực hư hư” của một số nhà tâm linh, như thế giới “người âm”, điều đó cũng là những “nghịch lý” cần được nghiên cứu. Nghịch lý, phản đề là cách học hỏi tâm linh thời nay, là học hỏi về năng lượng vi tế thời gian chi phối sự sống muôn loài và vũ trụ. Cũng có thể chia ra hai loại chính là: tâm linh bác học hay tâm linh lý thuyết và tâm linh ứng dụng vào đời sống. Tâm linh bác học dành cho các nhà nghiên cứu, còn tâm linh ứng dụng dành cho công chúng. Vì sao tác giả bản viết này, khi viết lại thể hiện tính phân biệt trong tư duy? Vì đầu óc phân biệt là công cụ để học hỏi tiến hóa, nó hoàn toàn chỉ là phương tiện để tìm đường đi tới sự đồng thuận và hòa hợp với nghịch lý, coi nghịch lý là vốn sống để tiến hóa, coi nghịch lý là bạn.

Vốn sống nghịch lý

Sự hiện hữu của sự vật, sự việc ở không gian ba chiều là tương phản, điều này xảy ra ở mọi khái cạnh sống. Những sự vật, sự việc trái với ý muốn của bạn, nên được hiểu đó là bài tập khó nhưng giá trị. Ngay cả cơ thể bạn, nhiều khi nó cũng bất tuân bạn, bạn muốn khỏe để hoàn thành công việc, công trình sắp hết hạn, thì nó lại sinh bệnh, tất cả những nghịch lý diễn ra trong đời sống thường nhật là những bài tập quý giá, bài học nghịch lý là cách bạn học hỏi hiệu quả nhất. Phải chăng nỗi đau khổ trong tâm hồn bạn, con bệnh hiểm nghèo nào đó đang đe dọa sự sống của bạn, lại là vốn nghịch lý sống siêu đẳng để bạn “phải tìm” lời giải. Ngài Tự nhiên cũng hay lắm đó, Ngài “ép” ta học, ngoài ra không có ý tứ nào hết, để ta giàu có tâm linh mà sống với hiện tại vĩnh hằng. Sao hiện tại lại là vĩnh hằng? vì hiện tại mới là thực, quá khứ chỉ là ảo ảnh, tương lai chỉ là mong đợi. Khi còn làm người ở trần gian ba chiều này thì còn được chi phối bởi quy luật thời gian. Vạn vật chỉ trong hiện tại mới mang năng lượng thời gian tự do. Chết là hết sao? Chết là sự khởi đầu của một hiện tại mới. Hiện tại đó là gì? Nói ra cái mong đợi tương lai (sau khi chết) liệu bạn đã sẵn sàng nghe chưa. Hãy quý lấy từng giây khi bạn còn được sống làm người, thì mới tự hiểu được vì sao đời sống tâm linh lại cần cho sự sống của bạn. Khi học xong bài học nghịch lý, nghịch lý đó trở thành thân quen, hài hòa với bạn và bạn tiến hóa. Tiến hóa được hiểu và đo dung dị là như vậy. Vì không chấp nhận học từ các nghịch lý của cuộc đời nên đã phụ thuộc vào những cái “khung giá trị” định sẵn và có khi đã làm cho con người tách ra khỏi tổng thể, cộng đoàn, xa rời sự hiện hữu luôn thân thuộc và gắn bó với sự sống của sinh thể bạn. Bài viết này muốn trao đổi, chia sẻ cùng bạn về những cơ chế tự nhiên kiểm soát quá trình sống và đặc biệt quá trình học hỏi tiến hóa của mỗi sinh thể. Người viết bản viết này quan điểm rất đơn giản “sống là để học hỏi tiến hóa” và học hỏi là một quá trình liên tục không chỉ một đời, một kiếp người, mà là sự kế tiếp liên tục của một chuỗi sống vi tế, sinh động, đầy thách đố, nhưng vô cùng hứng khởi. Đời sống của một con người chỉ là một mắt xích trong chuỗi sống ấy. Có kiếp sau hay không thì chưa biết, nhưng chắc chắn vốn liếng học hỏi tiến hóa của một kiếp người sẽ được ghi lại bằng những sóng điện đặc biệt vi tế lưu trữ trong “tri thức nhân loại” “tri thức vũ trụ” tạm gọi như vậy. Sự bền vững của những sóng điện vi tế này, tùy thuộc vào sự thuần khiết của tư tưởng con người, nếu nó là tư tưởng “vì mọi người” “sống hài hòa với tự nhiên” thì nó sẽ được lưu giữ mãi trong “bể kiến thức vũ trụ”. Niềm tin ấy là mạch dẫn cho những trang viết này. Chính sự bất an về niềm tin đã làm cho nhân loại và chính tác giả bỏ lỡ cơ hội tốt hơn để học hỏi tiến hóa. Học hỏi như một công cụ hỗ trợ để xây dựng niềm tin về một tương lai sống với tình thương đầy đủ, hài hòa với muôn loài vạn vật trên thế gian, hành tinh xanh mến yêu của chúng ta. Tuy vậy, việc sử dụng những kiến thức, hiểu biết về khoa học và triết học vẫn được sử dụng và xin bạn đọc hiểu cho là: nó chỉ là công cụ ngôn ngữ để diễn đạt bằng lời những hiểu biết và sự tiếp cận bản chất của sự sống mà thôi. Những quy luật tự nhiên ẩn chứa vô hình đằng sau những diễn giải bằng lời, hàm chứa những nghịch lý và mỗi chúng ta phải tự tìm, tự học, tự hành động để học hỏi tiến hóa nhanh hơn để đồng pha với chu kỳ biến đổi lần này và Mẹ Trái Đất đang hững hờ trước một quyết định khó tin.

Vệ sinh não bộ

Cổ nhân xưa để lại sáu chữ “người ta tâm viên ý mã” để nhắc nhở hậu duệ của các Ngài về bản chất cố hữu của con người, nên được hiểu như thế nào? Ý nói con người như một bộ máy nhận và đáp ứng các thông tin từ môi trường, thông tin ấy tác động vào cơ thể giống như cách đáp ứng phản xạ của con khỉ (viên), con ngựa (mã), luôn hành động không ngơi nghỉ cho sự sinh tồn. Đó là mô hình sống tự nhiên quy định đời sống của con ngựa con khỉ. Con ngựa và con khỉ có biết học không? Có chứ, nhưng nó chỉ học để tồn tại sự sống với mục đích rất đơn giản là đói ăn, khát uống, nên nó vô tư lự. Con người quan sát thấy nó hành động và thay đổi các hành động liên tục và cho rằng hoạt động đi lang thang vô định của nó là vô nghĩa, thì con người đã quên rằng: cái vô nghĩa ấy lại có ý nghĩa với chính đời sống của chúng (cần phải nghiên cứu để hiểu bản chất). Nếu lấy khung giá trị của mình mà xem xét, đánh giá sự vật sẽ không khỏi mắc phải sai lầm. Đó là lời khuyên của tác giả dành cho các nhà khoa học trong mọi ngành nghề trong xã hội. Con người an nhiên tự tại hay hai loài vật thấp cấp hơn con người kia, đang yên bình mà sống hồn nhiên với cỏ hoa. Suy rộng ra thế giới tư duy, thế giới của các cấu hình tư tưởng đang từng giây từng phút tác động vào não bộ của con người và làm cho con người tương tư, suy ngẫm, lựa lọc để tìm ra những giá trị thực của đời sống, đời sống tự nhiên.
Thế giới tư duy vô hình kia cũng có mặt trái của nó là: làm cho con người luôn phải cân nhắc khi hành động và thậm chí làm cho người ta phải hao mòn sức lực và bế tắc trong tư tưởng. Biết một mà không biết hai và biết mấy cho đủ đây, khi môi trường học hỏi vô hình, thế giới của nghĩ suy cứ len lỏi vào trong não bộ ta, “quấy rối” và không cho ta có thời gian yên tĩnh. Sự bình yên của não bộ là điều kiện cần và đủ cho sức khỏe và sự thái quá trong thế giới tư duy, suy nghĩ, nặng hơn là lo lắng đủ thứ đã là nguyên phát của đủ thứ bệnh tật. Vệ sinh não bộ là chiến lược cần bàn để tăng cường sức khỏe của con người và cộng đồng. Trở về với con số zero phải chăng là loại bỏ các thông tin rác cập nhật vào thế giới tư duy của mỗi chúng ta. Thế nào là thông tin rác? Đó là những câu chuyện tầm phào của đời sống, nào là hôm nay giá cổ phiếu giảm, hay là chuyện giật gân của mấy tờ báo về hối lộ, loạn luân. Rồi đến chuyện ông bạn già hôm nay gặp mình không vui hay là mình có chuyện gì với ông ấy (ông ấy đau bệnh thì làm sao vui được đây). Những chuyện chẳng mấy liên quan đến mình, nhưng bạn cứ vận vào mình, coi mình có “trách nhiệm”, liên quan đến nó gọi là các thông tin rác, thông tin nhiễu. Thế giới của suy nghĩ đúng là “người ta tâm viên ý mã” thật. Ông Phật Cổ Đàm Thích Ca Mu Ni đã phải ngồi 49 ngày dưới gốc bồ đề để “dọn thông tin rác” và sau đó Ngài chứng kiến sự giác ngộ. Ứng dụng tâm linh vào trong đời sống đâu có phức tạp như người ta tưởng. Ăn thì hãy tập trung vào bữa ăn cho ngon miệng, học thì thôi đừng nghĩ đến chuyện đi xem hát, ngủ thì nhắm mắt lại đừng nghĩ bất cứ một điều gì để ngủ say. Đói ăn, khát uống trình bày rõ nguyện vọng sống với chính mình. Tự do là công tác làm vệ sinh bộ não, dọn dẹp các thông tin rác và tự do chỉ đơn giản vậy đó.
Cũng như loài vật kia, não bộ con người là bộ máy học tập, cách học là nhận thông tin và phản hổi, đáp ứng với thông tin. Chỉ khác các loài động vật, bộ máy thần kinh con người không chỉ là một máy duy trì sự tồn tại của cơ thể, mà còn là “hệ thống hạ tầng cơ sở giáo dục” nhằm thăng hoa những giá trị tinh thần của con người, ở một khía cạnh nào đó. Hệ thống thần kinh có bộ phận cao cấp xử lý và phản hồi thông tin gọi là thần kinh trung ương. Nó cũng có những bộ phận nhận và vận chuyển thông tin, gọi là thần kinh ngoại biên. Các bộ phận khác của cơ thể hoàn toàn hoạt động dưới sự kiểm soát, điều hòa của hệ thống thần kinh. Thể xác con người hoàn toàn khách quan khi tiếp nhận và vận chuyển thông tin, có sao phản ánh vậy, không một sai lệch, trừ khi tổ chức tiếp nhận, vận chuyển và phản hồi thông tin này bị tổn thương hoặc trục trặc chức năng. Thêm nữa, do sự thái quá về học hỏi có ý thức, xây dựng ý thức trên căn bản khuôn mẫu của xã hội, nên con người phải “tự dối mình” khi đáp ứng phản xạ và được gọi với các mỹ từ “vấn đề nhạy cảm” nên phải ức chế. Đúng là có những vấn đề như vậy trong đời sống xã hội thật, nhưng không phải tất cả. Mỗi chúng ta có quyền tự do suy nghĩ và hành động hợp với lẽ tự nhiên và đó chính là cơ sở để ta tự ngẫm, tự học hỏi từ những nghịch lý này.
Người hiện đại ngày nay, từ sáng đến tối phải làm việc, đối mặt với công ăn việc làm, khi mệt nhoài, lên giường để ngủ, trong đầu vẫn không ngơi nghỉ suy tư, tính toán, cân nhắc, tự thảo luận, học hỏi trong một thế giới vô hình, thế giới nghĩ suy, thế giới tâm trí. Thế giới tâm trí và nghĩ suy này được hình thành do những ảo ảnh của não bộ, khi tiếp nhận các thông tin từ môi trường đưa vào cơ thể. Vì sao lại gọi là ảo ảnh? vì nó không thật với hoàn cảnh hiện thời mà bạn đang suy nghĩ. Xem TV thấy có trẻ bị chết đuối trên sông nước, vậy là sau đó cứ lo hoài và tự hỏi liệu con mình, cháu mình, người thân của mình sống gần sông suối có bị rủi ro như số phận của kẻ chết đuối kia. Thực ra để bị chết đuối có nhiều yếu tố kiểm soát và không loại trừ yếu tố vô hình, ở những hoàn cảnh cụ thể nào đó mới xảy ra. Trẻ con ở Miền Tây Nam bộ Việt nam hàng năm sống chung với lũ đâu có dễ chết đuối. Một sự kiện đe dọa đến sự bình an của người khác, hoàn cảnh nhất định, được gây thành ảo ảnh với một người, khi người đó lo sợ điều ấy xảy ra với họ. Sự đe dọa đó là ảo ảnh vì khó xảy ra và kết quả người lo sợ kia bị hao mòn sinh lực, sinh bệnh, suy nhược cả thể xác và tinh thần.
Trong đời sống, chỉ một ánh mắt của người mà mình giao tiếp, cũng để lại trong ta những ảo ảnh suy tư. Người này là ai? Lợi hay hại, tốt hay xấu, ánh mắt ấy có ý gửi tới ta điều gì. Ít nhất hình ảnh ấy cũng lưu lại trong não bộ bạn ít phút, ít giờ, mà có khi cả tháng và dài hơn, tùy tương tác ấy nằm trong khung giá trị nào của bạn. Nếu được gặp một vĩ nhân, ảo ảnh ấy sẽ lưu lại suốt đời bạn, vì khung giá trị của bạn là: “tôi đã gặp vĩ nhân” và sự gặp gỡ ấy sẽ là hành trang để bạn “khoe” với mọi người rằng “tôi thuộc về di sản đạo đức, di sản khoa học, di sản triết học…của vĩ nhân” và bạn ngầm ý muốn nói “tôi thuộc về đẳng cấp đó”. Các vĩ nhân thì vô cùng khiêm nhường và giản dị, nhưng bạn không muốn như vậy, bạn muốn thần tượng hóa vĩ nhân để ngầm “thần tượng hóa” mình và đây là vấn nạn trong thế giới tâm trí, thế giới suy nghĩ của con người. Trong thực tế, nó còn được con người lợi dụng và trong những hoàn cảnh cụ thể, con người đang xóa đi hình ảnh thực, cuộc đời thật của các vĩ nhân và của mình. Người Việt Nam có câu nói rất dễ thương “thấy sang bắt quàng làm họ”.
Thành tố tự nhiên trong trời đất

Để duy trì thể xác, con người cần ăn uống và hít thở khí trời. Lương thực thực phẩm thì do cây trồng và thịt sữa trứng từ động vật trong chuỗi thức ăn cung cấp. Nước và không khí, hai yếu tố tối cần thiết cho sự sống thì Trời Đất cho, không lấy tiền và con người chỉ cần biết giữ cho nguồn nước và không khí trong sạch, tránh bị ô nhiễm độc chất hóa học, là con người có thể ung dung sống mà không phải mua hai nguồn chất sống tự nhiên tối quan trọng này. Đây là hai nguồn vật chất sống quý giá, hai thành tố vật chất tự nhiên không biên giới vì các dòng sông lớn (mạch dẫn chính) đi qua nhiều quốc gia, rồi từ đó phân nhánh đến các vùng miền. Dòng sông hết cạn lại đầy, nhờ nước bốc hơi từ biển cả và mặt nước từ các ao hồ sông suối, theo luật tuần hoàn tự nhiên, mưa cung cấp nước thường xuyên cho sự sống muôn loài, rồi nước lại tụ tập về các dòng sông trôi về biển cả mênh mông.
Không khí được làn gió nâng cánh bay đi, bay xa, đối lưu khắp mọi nơi từ những vùng xa xôi hẻo lánh đến các thành thị chặt cứng xe cộ và con người. Gió đưa không khí, “chất sống” tối cần thiết đến mọi nhà, mọi miền vô tư như ánh nắng mặt trời, không phân biệt, không cần ai biết đến, không cần sự trả ơn, không mua không bán, âm thầm và tự nhiên . Sự chết của thể xác có nguyên nhân căn bản là rối loạn trao đổi nước “nước sạch” tinh nguyên trong cơ thể và không khí (dưỡng khí ô-xy) thì các nhà y học đã rành. Vì thể xác con người có gần 80 % là nước. Con người không chết nếu thiếu ăn cả tháng trong điều kiện vẫn được uống nước và hít thở không khí bình thường. Con người sẽ chết trong 5 đến 10 phút nếu không được thở không khí và một vị minh sư người Việt Nam đã gọi Thượng Đế là không khí, chính là cái ý này. Thực ra một ngày con người duy trì sự sống rất đơn giản, ăn đủ 3 lần, hít thở khí Trời trong lành và uống những giọt nước tinh khiết của trời đất, khoảng 1,5 lít nước là đủ duy trì thể xác cường tráng. Thể xác con người dễ tính, nết na lắm và nó dường như chỉ cần có vậy cho duy trì một “cái hộp” chứa đựng bên trong một sự sống bình yên, thấm đượm tinh chất tự nhiên nguyên ủy của sự sống.

Thành tố tự nhiên ẩn chứa trong ta

Như vậy, thể xác con người khi mới sinh ra thật hoàn hảo đúng với nghĩa là một tác phẩm sáng tạo Vĩ đại của Tạo Hóa. Nhưng thực ra cơ thể con người chủ yếu là nước. Thật vậy đứa trẻ mới sinh ra hoàn toàn vô tư trong sáng, hồn nhiên như những thiên thần mơ ước, để học những điều mới lạ, để cảm nhận vẻ đẹp vô ngôn mà Cha Trời, Mẹ Đất đã dành cho con người. Cái ta của đứa bé là gì? Đứa bé không có khái niệm này và nó chỉ biết đói ăn, khát uống và vui chơi hồn nhiên với muôn loài xung quanh một cách tự nhiên trong sáng, tinh khiết để học hỏi tiến hóa. Nếu chúng ta mơ ước chứng kiến tâm hồn trong sáng, thì không phải tìm đâu xa, hãy chơi với trẻ con. Chơi với trẻ, yêu trẻ là yêu mình vì nó rất có lợi cho sức khỏa của bạn và đúng là “trẻ con như búp trên cành”. Khi một đứa trẻ sinh ra từ lòng mẹ, cũng là lúc có một thành tố tự nhiên, dưới dạng một siêu băng tần sóng điện, từ môi trường bên ngoài, “nối mạng” với sinh thể bé bỏng này. Đây là một nhận thức hoàn toàn khác với những quan điểm triết học trước đây cho rằng: khi đứa trẻ vừa mới sinh ra thì đồng thời có một linh hồn nhập vào cơ thể với ý nghĩa đây là một thành tố năng lượng độc lập. Nó không độc lập và chỉ là “sợi dây” nối mạng xuất phát từ tự nhiên. Linh hồn tôi và linh hồn bạn là khác nhau xét theo giác độ thể xác, nhưng giống nhau xét theo quan điểm hệ thống. Câu chuyện các tia nắng: xanh, đỏ, vàng, lục, lam, chàm, tím cập nhật tới trái đất đua tranh nhau, khen mình đẹp còn các tia khác thì…Rồi chúng kéo nhau lên Trời nhờ Ngài phân định. Vừa tới cổng Trời, chúng trở lại bản thể giống nhau như hệt và hết chê nhau. Từ nhận thức có sự dị biệt, khác nhau đó, đã sinh ra các khái niêm sở hữu, đẳng cấp, lòng tham (tham danh, tham lợi) và nảy nở sinh sôi, làm xơ cứng, chai sạn tình thương của con người. Xin nhắc lại thể xác có thể là dị biệt vì thể xác là vật chất thì phải biến đổi đó là luật tự nhiên, linh hồn là năng lượng đặc biệt, là thành tố tự nhiên, là những băng tần sóng điện đặc biệt của trời đất ẩn chứa trong ta, không thể cân đo đong đếm, không thể phân tách, không trao đổi chất (không ăn, không mặc, không danh, không lợi, không tình, không giới tính). Linh hồn chỉ là một phân nhánh xuất phát từ “trường sự sống tự nhiên” từ trời đất, tự nhiên gắn nối với thể xác con người. Sự sống nguyên ủy, mã sống, code sống khởi thủy, mang cấu hình tự nhiên, ẩn chứa trong ta, chính là hiện tượng nối mạng này. Chúng ta, sự sống của mỗi con người chỉ là sự biểu hiện sự sống thật của “trường sự sống tự nhiên” hoàn hảo, không có gì để bàn, được trời đất lưu giữ và phát triển trong lộ trình sáng tạo con người, hàng tỷ năm của Cha Trời, Mẹ Đất mà thôi.
Trường năng lượng đặc biệt, vi tế “nối mạng” với cơ thể đứa bé và từ đó các mật mã của sự sống (life code) nguyên ủy, tinh khiết, trong sáng, lành tính, an nhiên của sự sống một con người, được hiện hữu vi tế trong cơ thể đứa bé. Không có gì để bàn về tâm hồn trẻ thơ, vì nó ngây thơ, an lạc và tinh tế vô cùng. Trường năng lượng đặc biệt này có thể hiểu khác là: trường thông tin sự sống, trường thông tin tổng hợp, mang đặc tính tự nhiên, đặc tính vũ trụ và hệ thống dưới nó là trường thông tin trái đất. Trường năng lượng này hoạt khá động một cách độc lập với cơ thể bé, không can dự nhiều vào các hoạt động sinh lý của bé, nhưng lại là nguồn sống của bé. Hiện tượng ngây thơ hồn nhiên của bé đích thực là do não bộ của bé chưa bị các thông tin rác chiếm giữ, tạm hiểu như vậy. Khi thể xác của bé bị cắt liên hệ với trường năng lượng này thì bé không thể sống được. Ví như cái điện thoại di động khi đi vào vùng không được phủ sóng, điện thoại vô dụng. Ngày nay bằng kỹ thuật chụp ảnh đặc biệt người ta đã chụp được điển quang của chùm năng lượng đặc biệt này. Mỗi một sinh thể, tùy trạng thái tâm sinh lý, tuổi tác và giới tính và đặc biệt là sự cộng hưởng về tương tác sinh học của sinh thể với muôn loài vạn vật xung quanh, kể cả các sóng điện từ vũ trụ cập nhật tới sinh thể, mà người ta thu được các điển quang của trường năng lượng đặc biệt này, với cấu hình và màu sắc khác nhau. Như vậy linh hồn của con người hay thành tố tự nhiên trong sinh thể không đặc thù cho cá thể mà có một nguồn cội chung, mang đặc tính đặc tính tạm thời khi “gắn nối” conect với trường sự sống Trái đất và hệ thống trên nó là trường sự sống vũ trụ và đại càn khôn. Linh hồn, thành tố tự nhiên chỉ độc lập tương đối khi con người còn chưa nhận ra nó, còn thực chất nó vốn hài hòa với trường sự sống chung của trời đất. Nhận ra thành tố tự nhiên ẩn chứa trong ta là bước khởi đầu quan trọng trợ giúp cho bạn có phương pháp luận mới về bản chất sự sống.

Thay cho lời kết

Cuộc sống quanh ta có bao điều thú vị, tình yêu cuộc sống trong ta cứ mãi mãi tuôn trào, đau khổ đâu phải do Trời Đất bắt ta, âu là do ta chưa chịu học, học bài học nghịch lý của cuộc đời ta. Dòng chảy thời gian không ngưng nghỉ, chảy mãi khôn nguôn và đưa sự sống muôn loài đến bến bờ mới đầy sáng tạo và an vui. Có một lời khuyên từ ai đó “nếu nhân loại cùng hướng về một điểm” - điểm khởi nguyên của hai đại lượng số nhiều thời gian và không gian do Đấng Sáng Tạo ban truyền, thì nỗi khổ đau trầm luân vô hình đâu đó sẽ hết và trang sử mới, con người mới sẽ ra đời. Vì thế mà điều kiện cần và đủ lúc này là biết học, học bài học nghịch lý của Trời Đất và cuộc đời ta. Với một niềm tin nặng tình Mẹ, mong cho “hết cơn bĩ cực tới ngày thái lai” đến với chúng ta, nhân loại thân yêu này.
Đ.V.T. (Còn tiếp)
__________________
Hạnh Phúc thay ! Mỗi sớm mai thức dậy,lại có thêm một ngày để yêu thương .
Trả Lời Với Trích Dẫn