UE Global
Translate this webpage (Google Translation):
    »
Choose your language:      

Chọn diễn đàn
Main Forums
English Forum
www.ue-global.com
Forum Français
French Forum
fr.ue-global.com
Diễn đàn Tiếng Việt
Vietnamese Forum
vn.ue-global.com
Русскоязычные форумы
Russian Forum
ru.ue-global.com
Foro en Español
Spanish Forum
es.ue-global.com

Chào mừng bạn đến với UE Global.
Go Back   UE Global > Diễn đàn Nhân Điện Tiếng Việt > Tâm linh

Gởi Ðề Tài Mới Trả lời
 
Công cụ Xếp Bài
Chuyên đề kỷ niệm ngày Phật Đản
Old 16-05-2008, 12:32 pm  
HoangMai
Senior Member
 

Default Chuyên đề kỷ niệm ngày Phật Đản
Cách đây 2600 năm đã có 1 Đấng Giáo Chủ ra đời góp vào con đường cứu độ chúng sinh thoát khỏi khổ đau . Để rồi làm bước nối tiếp cho dòng chảy của tâm linh .. những gì đã qua là tiếp nối cho hiện tại và rồi hiện tại tiếp nối cho tương lai...

Nhân dịp ngày Phật đản , Hoàng Mai xin góp nhặt lại những bài viết về Đạo Phật để chúng ta cùng học hỏi tìm hiểu .

Xin gửi niềm Tri Ân , Biết ơn vô cùng đến các đấng Giáo Chủ , Các Bổn Tôn , Các vị thầy tâm linh đã vì chúng sinh mà xuống quả địa cầu này !

Kính chúc tất cả các anh chị em thâm tâm thường an lạc và tinh tiến !

Hoàng Mai
Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 16-05-2008, 12:35 pm  
HoangMai
Senior Member
 

Default
Ý Nghĩa Ðản Sanh

Sự xuất hiện của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni trong cõi Ta Bà nầy là một phước đức lớn lao cho nhân loại. Ngài là hiện thân của Từ Bi, Trí Tuệ, và ánh sáng của chân lý. Như trong kinh Ðại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa có nói: Ngài ra đời vì mục đích trọng đại là Khai Thị Chúng Sanh Ngộ Nhập Phật Tri Kiến.

Ðứng về phương diện bản thể mà xét thì Ðạo Phật có từ vô thỉ. Nói là vô thỉ vì nó không có đầu mối. Cũng không giới hạn ở trong thời gian, bởi vì Ðạo Phật là bản tánh sáng suốt của chúng sanh, nên có chúng sanh là có Ðạo Phật, mà chúng sanh có từ vô thỉ thì Ðạo Phật cũng có từ vô thỉ. Tất cả các Ðức Phật nói chung và Ðức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật nói riêng, trước khi thành đạo các ngài cũng như tất cả các chúng sanh khác trong tam thiên đại thiên thế giới. Trong lúc tu nhân để trở thành những vị bồ tát và cuối cùng là Bổ Xứ Bồ Tát trước khi giáng trần thì theo trong Nhân Duyên Ðàm Phật truyện được chia ra làm ba thời kỳ:
Thời Kỳ Viễn kỳ: Là thời kỳ kinh lịch của Phật từ A Tăng kỳ trăm nghìn kiếp về trước cho đến khi thành nhất sanh bổ xứ ở trên Cung Trời Ðâu Suất.
Thời Kỳ Trung Kỳ: Là kể lại từ Cung Trời Ðâu Suất giáng sinh làm Thái Tử Tất Ðạt Ða, rồi xuất gia và thành đạo.
Thời Kỳ Cận Kỳ: Là thời kỳ từ khi thành đạo bắt đầu thuyết pháp cho đến khi nhận Kỳ Viên Tịnh Xá.
Như trên là ba thời kỳ từ khi tu nhân cho đến ngày giáng trần của chư Phật, tuy nhiên theo học giả Kimura Taiken thì ông chia ra làm hai thời kỳ đó là: Thời gian tu nhân của Bồ Tát ở quá khứ và từ Ðản Sanh đến Nhập Niết Bàn.
A- Phương Diện Tôn Giáo Học: Thời Quá Khứ Bồ Tát Tu Nhân
Vào thời Ðức Phật Nhiên Ðăng cách đây bốn A Tăng Kỳ và trăm nghìn kiếp về trước, có một cư sĩ tên là Thiện Tuệ vì nhận thấy đời là vô thường nên xuất gia tu đạo trong núi tuyết và có ý định nhập diệt tại đó. Nhưng khi gặp Phật Nhiên Ðăng xuất hiện thuyết pháp cho nghe thì Thiện Tuệ bỏ đi ý định nhập Niết Bàn, trái lại còn phát tâm độ hết thảy tất cả chúng sanh và quyết tu cho đến khi thành Phật. Thiện Tuệ một mực thờ Phật Nhiên Ðăng, và cuối cùng được Phật thọ ký trải qua bốn A Tăng Kỳ trăm ngàn kiếp sau được thành Phật hiệu là Thích Ca. Ðó là khởi đầu cho các kiếp làm Bồ Tát ở quá khứ. Bồ Tát có nghĩa là người tìm cầu trí tuệ, điều kiện chủ yếu của Bồ Tát hạnh là quên mình, vì người, nghĩa là lấy việc trên cầu Bồ Ðề, dưới độ chúng sanh làm căn bản tu hành. Sau khi được thọ ký, Bồ Tát trải qua nhiều đời nhiều kiếp sinh vào các loài hữu tình để hoàn thành những hạnh nguyện của mình, cho nên có khi Bồ Tát làm Chuyển Luân Thánh Vương, có khi làm Ngư Phụ, có khi mang thân phàm phu nhiều phiền não, cũng có khi sinh làm Vượn, Khỉ, Giả Can, loài Thỏ..v..v..tất cả những hình tướng đó rốt cuộc cũng chỉ để hoàn thành tâm nguyện trên cầu Phật Ðạo, dưới hoá độ chúng sanh. Trong tất cả các cảnh giới và các loại thân hình, Bồ Tát tuy nổ lực hành trì, nhưng pháp tướng để các ngài dùng làm căn bản tu tập vẫn là mười Ba La Mật:
01- Bố Thí Ba La Mật
02- Giới Ba La Mật
03- Xuất Ly Ba La Mật
04- Trí Huệ Ba La Mật
05- Tinh Tấn Ba La Mật
06- Nhẫn Nhục Ba La Mật
07- Chân Thật Ba La Mật
08- Quyết Ðịnh Ba La Mật
09- Từ Bi Ba La Mật
10- Xả Ba La Mật
Trong khoảng thời gian bốn A Tăng Kỳ trăm ngàn kiếp ấy Bồ tát đã được gặp và cúng dường vô số Phật, nhưng mối quan hệ đặc biệt thâm thiết thì chỉ có hai mươi bốn đức Phật:
01- Nhiên Ðăng Phật
02- Kiều Trần Như Phật
03- Cát Tường Phật
04- Thiện Ý Tu Ma Da Phật
05- Ly Bà Ða Phật
06- Du Tỳ Ða Phật
07- Anomadass Phật
08- Hồng Liên Hoa Phật
09- Na La Ðà Phật
10- Thượng Liên Hoa Phật
11- Thiện Tuệ Phật
12- Thiện Sinh Phật
13- Piyadassi Phật
14- Atthadassi Phật
15- Dhammadassi Phật
16- Tất Ðạt Ða Phật
17- Ðể Sa Phật
18- Bổ Sa Phật
19- Tỳ Bà Thi Phật
20- Thi Khí Phật
21- Tỳ Xá Bà Phật
22- Câu Lưu Tôn Phật
23- Câu Na Hàm Mâu Ni Phật.
24- Ca Diếp Phật
Như vậy những kiếp làm Bồ Tát, Phật Thích Ca đã được gặp rất nhiều Phật, mà mỗi lần gặp một vị Phật nào đều hy sinh bản thân để cúng dường Phật đó, đồng thời cũng nhận chịu sự giáo hóa của vị đó. Trên con đường tu Bồ tát hạnh Ðức phật Thích Ca đã lấy sự phát tâm từ thời đại Thiện Tuệ làm khởi điểm để rồi hiện thân nơi Liên Hoa Ðài Tạng, rồi qua phương Ðông tại cung trời Thiên Vương diễn nói kinh Ma Thọ Hóa trong suốt thời gian dài như vậy cũng chỉ cốt để hoàn thành các Ba La mật, và cuối cùng an trú nơi Cung Trời Ðâu Suất, sau đó giáng trần độ sanh.
B- Về Phương Diện Lịch Sử:
a- Niên Ðại Ðản Sanh:
Bồ Tát ở tại Cung Trời Ðâu Suất được mấy nghìn tuổi thì thời gian thành Phật đã đến. Lúc đó, trên thiên cung các thiên sứ tuyên ngôn về sự xuất hiện của Phật: Từ đây đến một ngàn năm sau ở cõi Ta Bà sẽ có một vị Phật ra đời. Nghe xong chư thiên tụ họp lại để thỉnh cầu Bồ Tát sớm thành Phật. Lúc đó Bồ Tát liền dự liệu về thời gian giáng sinh, châu, quốc độ, chủng tộc và thân mẫu. Sau cùng ngài đã quyết định thác thai vào hoàng hậu Ma Da, vương phi của vua Tịnh Phạn, thuộc cõi Diêm Phù Ðề. Ðể thích ứng với điều đó, hoàng hậu Ma Da đã thấy một giấc mộng đẹp. Vào một buổi cuối mùa hạ, sau khi hoàng hậu bố thí cho mọi người, lúc lui về yên nghỉ, thì thấy bốn vị thiên thần đến khiêng giường hoàng hậu đi về phía núi tuyết, đặt dưới gốc cây Sa La rồi mời hoàng hậu vào tắm trong ao nước tám công đức. Lúc đó một con voi trắng, nơi vòi có quấn một bông sen trắng đến lạy hoàng hậu rồi theo đường hông bên hửu mà vào thai tạng. Hoàng hậu khi tỉnh giấc liền đem chuyện chiêm bao thuật lại cho nhà vua, nhà vua liền cho triệu thầy tướng vào cung để hỏi giấc mộng kỳ lạ đó. Thầy tướng cho đây là điềm mang thai, và người con sau nầy nếu đi tu sẽ là một bậc Ðại Giác, còn nếu ở tại thế gian thì sẽ là một vị Chuyển Luân Thánh Vương. Khi đủ ngày tháng, theo tục lệ của người Ấn Ðộ, hoàng hậu phải về nhà cha mẹ tại thành Thiên Chỉ để sanh, nhưng mới đi được nửa đường đến vườn Lâm Tỳ Ni thì sinh Thái Tử bên gốc cây Hoa Vô Ưu.
Về niên đại Ðản Sanh của Ðức Thích Ca Mâu Ni có nhiều thuyết nói khác nhau, như nói ngài sanh và năm 1023 TCN, 685 TCN, 624 TCN, 623 TCN, 566 TCN, 561 TCN, 559 TCN, 557 TCN. Tuy nhiên theo Phật Giáo Việt Nam từ khởi thỉ cho đến ngày nay vẫn thường kỷ niệm vào những ngày lễ như:
Ngày 08 tháng 4 đức Phật đản sanh
Ngày 08 tháng 02 - - xuất gia
Ngày 08 tháng 12 - - thành đạo
Ngày 15 tháng 02 - - niết bàn.
Theo phổ thông hiện nay, thì ngày đức Phật Ðản Sanh là ngày 15 tháng 04 âm lịch năm 623 TCN. Như vậy tính đến năm 1997 ngày Phật Ðản Sanh là 2621 năm. Năm 1952 trong Ðại Hội Nghị Phật Giáo Thế Giới kỳ II tại Tokyo kinh đô của Nhật Bản đã quyết định lấy năm đức Phật nhập Niết Bàn làm ngày kỷ niệm Phật Lịch thống nhất cho toàn thế giới, và như vậy tính cho đến năm 1997 mùa Phật Ðản năm nầy là Phật Lịch lần thứ 2541.
b- Nơi Ðản Sanh Của Thái Tử:
Như chúng ta biết trước đức Phật xuất thế, văn hoá Ấn Ðộ cũng đã phát triển đến mức khá cao nhưng tất cả đều dựa trên căn bản tư tưởng của Bà La Môn giáo. Từ khi Ðức Phật xuất thế, thế lực của Bà La Môn lần sút kém và được thay thế vào đó bằng tư tưởng Phật Ðà. Chính vì sự mất địa vị, cho nên người Bà La Môn giáo lúc nào cũng nuôi ý chí khôi phục lại quyền lực của họ. Sau khi đức Phật nhập Niết Bàn, nhân sự phân hóa trong tổ chức của Phật đệ tử, nên người Bà La Môn trà trộn vào hàng ngũ tăng chúng để hoạt động bằng cách trá hình làm tăng sĩ để tạo những điều nghi kỵ phân tán trong tăng chúng. Vua A Dục là một đệ tử thuần thành của Ðức Phật thấy thế ông rất lo ngại cho tiền đồ đạo pháp, nên ông quyết ý muốn minh xét lại giáo nghĩa của đức Thế Tôn. Nhà vua cho sứ giả đến núi Ahoganga cung thỉnh ngài Mục Kiền Liên Ðế Tu về triều và tuyển chọn 1000 cao tăng để kết tập kinh điển tại thành Hoa Thị. Hội nghị nầy được đặt dưới quyền chủ tọa của ngài Mục Kiền Liên Ðế Tu. Ðại hội làm việc 9 tháng thì hoàn thành. Nội dung kết tập kỳ nầy là Kinh, Luật, và Luận Tạng. Trong dịp nầy nhà vua cũng đã loại bớt một số người Bà La Môn đội lốt Phật Giáo để gây sự phân hóa trong hàng thánh chúng, đồng thời nhà vua cũng cho dựng những trụ đá để lưu niệm tại nơi Ðản Sanh của đức Từ Phụ nói riêng và nói chung là nơi nào có dấu chân của đức từ phụ là nơi đó ông cho dựng bia đá để kỷ niệm. Riêng về nơi đức Phật Ðản Sanh, khi dựng trụ đá xong nhà Vua ra lệnh cho một phần tám dân số đến cư ngụ quanh vùng để bảo vệ di tích.
Ðến thế kỷ thứ 13 tức là vào khoảng năm 1203 quân Hồi Giáo do tưóng Iktiyar Uddin chỉ huy, đem đại quân đánh chiếm và tiêu diệt vương triều Sena rồi làm bá chủ cõi Trung Ấn. Về sau thế lực quân Hồi bành trướng khắp các nơi, đi đến đâu họ tiêu diệt đến đó, nếu nơi đó không phải là Hồi Giáo. Phật Giáo và Ấn Ðộ giáo đều bị thảm họa chung trong lúc đạo quân Hồi Giáo xâm lăng, nhưng riêng về Phật Giáo quân đội Hồi Giáo lại tàn bạo hơn. Họ phá hủy chùa tháp, thánh tích, thiêu đốt kinh điển, tịch thu bảo vật, hãm hại tăng ni, làm cho Phật Giáo ở Ấn Ðộ lúc bấy giờ gần như không còn gì nữa. Có thể nói Phật Giáo Ấn Ðộ chỉ thấy được cái huy hoàng của 15 thế kỷ đầu, nhưng từ 15 thế kỷ trở về sau Phật Giáo Ấn lu mờ dần. Mãi cho đến khi người Anh cai trị, lớp tri thức Anh bắt đầu tìm hiểu đời sống, phong tục tập quán, văn hoá Ấn, họ rất ngạc nhiên khi thấy nền triết học thâm thúy của Phật Giáo đã bị chôn vùi trong quên lãng, trong khi đó dân tộc Ấn không mảy may lưu tâm tới. Chính lúc người Anh bắt đầu thiết lập những công trình khảo cứu, sưu tầm những di tích, thánh tích lịch sử Phật thì cũng là lúc giới tri thức của Ấn cũng bắt đầu thức tỉnh, từ đấy họ hô hào, phát động những phong trào chấn hưng Phật Giáo.
Trong công cuộc sưu tầm những di tích của Phật Giáo Ấn Ðộ, trong năm 1897 bác sĩ Fuhrer đã đào được một trụ đá do vua A Dục dựng tại vườn Lâm Tỳ Ni nơi đức Phật Ðản Sanh, trên trụ đá đó có ghi năm dòng chữ:
Người yêu quý của vua
Vua A Dục thứ 20 đã đến đây
Chính ta thân hành đến đây, để chiêm bái nơi giáng trần của Thái Tử Sakya.
Ta ra lệnh làm trụ đá nầy
Ðể bảo vệ thánh địa nơi Ðức Thế Tôn đã sanh tại Lâm Tỳ Ni.
Những ngày gần đây, một thành công khác trong việc sưu tầm cũng được công bố. Vào ngày 6 thánh 2 năm 1996 tờ báo Seattle Post Intelligencer có đăng tải một bài viết ngắn về bản công bố của chính phủ Nepal đề ngày 5 tháng 2 năm 1996. Trong bản công bố đó họ cho biết: Hơn 200 nhân công của 6 phái đoàn khảo cổ của sáu quốc gia Nhật, Nepal, Ấn Ðộ, Hồi, Tích Lan và Bangladesh đã đào trên hai năm trời, cuối cùng họ tìm thấy di tích 15 căn phòng, nơi Thái Tử Tất Ðạt Ða đản sanh, diện tích rộng hơn 3 dặm vuông, trong đó có cả hồ nước nhỏ mà người ta nghĩ rằng hoàng hậu Ma Da đã tắm ở đó trước khi hạ sanh Thái Tử đã bị chìm trong lòng đất dưới một ngôi chùa xưa hơn 2000 năm trong khu vườn Lâm Tỳ Ni. Khu vườn Lâm Tỳ Ni nầy nằm gần vùng biên giới của hai quốc gia Ấn Ðộ và Nepal và cách thủ đô Nepal 145 dặm về hướng tây.
Những thành quả trong công cuộc tìm kiếm nầy có được là nhờ vua A Dục, là vị vua Ấn Ðộ trước khi gặp Phật đã là tín đồ của Ấn Ðộ Giáo, nhưng khi gặp Ðức Phật ông quy y Tam Bảo và trở thành một Phật Tử thuần thành như nói ở trên đã làm thạch trụ, cho mọi người biết vào thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, Thái Tử Tất Ðạt Ða đã từ bỏ thế giới vật chất để trở thành một du tăng hành khất và ngài đã trở thành đấng Giác Ngộ. Những bia ký mặt thạch trụ nằm trên những căn phòng mới đào nầy đã ghi rõ đấng Giác Ngộ đã sinh ở đây. Theo ông Babu Krishna Rijal là một trong hai nhà khảo cổ gốc Nepal nói rằng sự khám phá những di tích nầy đã xác nhận những điều mà sách vở bia ký đã nói từ trước về Thái Tử Tất Ðạt Ða là sự thật có trong lịch sử chớ không mơ hồ hoang tưởng.
C- Giáo Lý Của Ðức Phật & Cuộc Sống Hiện Thực: Niết Bàn
Sau khi từ bỏ cuộc sống thế tục, Thái Tử Tất Ðạt Ða xuất gia tu học và ngài trở thành bậc chánh giác. Lúc ngài 80 tuổi, khi chí nguyện độ sanh đã thành tựu. Một hôm, ngài cho triệu tập các đệ tử từ khắp bốn phương lại và ngài di chúc những lời tối hậu: Này các con, hãy tôn kính thanh tịnh giới, tịnh giới còn, đạo ta còn. Những kinh luật ta đã dạy từ khi ta thành đạo đến giờ sẽ là nơi nương tựa che chở cho các con. Những giáo pháp của ta có những lợi ích như vậy, cho nên các con hãy cố gắng học và làm theo. Cho dù các con ở trong núi rừng thâm sơn cùng cốc, nơi những bờ sông bùn lầy nước đọng, hoặc bất cứ nơi nào cũng vậy, các con hãy tưởng nhớ đến giáo pháp của ta, đừng sao nhãng vì một đời luống qua không làm gì...để rồi tự kết liễu trong ân hận hối tiếc. Các con hãy vì lòng từ bi rộng lớn mà đi gieo rắc hạnh phúc cho đời, đừng đi trùng nhau trên một ngã đường. Các con hãy truyền đạo mầu nhiệm cho đời hiểu thế nào là cuộc sống cao cả trong sạch hoàn toàn và gương mẫu.
Những lời vàng ngọc của Ðức Phật dạy làm rung động đến tận tâm thức của những đệ tử của ngài. Có thể nói trên đường đi do Ðức Phật chỉ đạo, mỗi bước đi là mỗi bước đi đến gần ánh sáng của chân lý. Những lời dạy giản dị nhưng cao cả, ít nhưng hàm chứa một sức sống vô biên, vậy mà có người cũng cho rằng đạo Phật quá cao siêu huyền bí, không thể thực hành bởi những người thông thường trong cuộc sống hằng ngày. Theo quan niệm nầy nói, những ai muốn trở thành những phật tử chân chánh thì phải từ bỏ thế giới nầy để rút lui vào một tu viện hay một nơi nào đó yên tĩnh để sống cuộc sống xa cách mọi người, tách rời xã hội mới là cuộc sống thánh thiện. Quả thật cũng có thể đúng nhưng không hoàn toàn. Chúng tôi nói không hoàn toàn bởi vì đối với một số người có thể là lối sống thanh thoát khi họ sống ẩn dật trong một nơi yên tĩnh, xa hẳn ồn ào phức tạp, như vậy cũng là điều đáng ca ngợi hơn những ai thực hành Phật Giáo mà vẫn sống giữa phồn hoa đô hội. Có lẽ trong trường hợp đó sẽ có ích cho những người dùng cuộc sống ẩn dật để trau dồi tâm ý và tính tình như một sự trau dồi về đạo đức, tâm linh để về sau có đủ khả năng phục vụ nhân sinh. Nhưng nếu con người sống suốt đời trong cô độc chỉ nghĩ đến hạnh phúc riêng mình, không lo nghĩ đến đồng loại, thì điều nầy chắc chắn không phù hợp với giáo lý Ðức Phật. Bởi vì giáo lý của Ðức Phật vốn căn bản trên tình thần từ bi, và sự giúp đở người khác. Nhưng cũng có người thấy rằng sự xa lánh đó làm cho họ chán ngán buồn phiền cả thể xác lẫn tinh thần và như vậy sẽ không giúp ích gì cho đời sống tri thức và tâm linh của họ. Theo như ngài Xá Lợi Phất, một trong số các đại đệ tử của Ðức Phật thì sự ẩn dật chân chính không có nghĩa là thân xác phải xa lánh thế gian, vì vậy ngài dạy: Một người có thể sống trong rừng miệt mài với những luyện tập khổ hạnh, nhưng không kiểm soát tư tưởng, để cho tâm tư đầy dẫy những xấu xa bất tịnh, thì còn tệ hại hơn là những người sống trong làng mạc hay thành thị, không thực hành kỷ luật ép xác nào, nhưng người ấy có thể kiểm soát được tư tưởng, tâm người ấy trong sạch không cấu bẩn. Quan niệm rút lui khỏi thế giới hiện thực nầy rất sai lạc do sự thiếu hiểu biết về giáo lý của Ðức Phật. Từ sự thiếu hiểu biết, người ta thường đi đến một kết luận sai lầm và vội vã, sau khi tình cờ nghe hay đọc một cái gì đó về Phật Giáo do những tác giả hoặc số người nào đó, vì đã không hiểu thấu vấn đề trong mọi khía cạnh, hoặc cố tình bóp méo sự thật, để đưa ra những quan niệm thiên lệch về Phật Giáo. Xin xác định, giáo lý của đức phật không phải chỉ dành cho những tăng lữ trong chùa, trong viện mà là cho tất cả những nam nữ Phật Tử cư sĩ sống ở thế gian, trong gia đình họ. Năm giới cấm, Bát Chánh Ðạo..v..v.. một lối sống theo Phật là để cho tất cả, không phân biệt màu da chủng tộc, già trẻ, giàu nghèo. Như chúng ta biết, trên thế gian nầy chỉ có một số nào đó có đầy đủ nhân duyên từ bỏ cuộc sống gia đình xuất gia học đạo, còn đại đa số mọi người trên thế giới không thể đi tu hoặc sống ẩn dật trong hang động núi rừng. Ðạo Phật dù cao cả thuần khiết đến đâu cũng sẽ trở thành vô dụng đối với nhân loại nếu họ không thể áp dụng được trong đời sống hằng ngày. Hiểu đạo Phật là nguồn giáo lý nhân bản chân chính, đồng thời chúng ta cố gắng thực hành nó trong đời sống hằng ngày của một người thế tục hoặc trong các tự viện của những vị xuất thế, tùy theo điều kiện sẳn có của mình, thì chắc chắn sẽ mang lại nhiều an lạc. Như trong các kinh điển của Phật có vô số những chỗ nói đến những người có đủ duyên tu hạnh xuất thế đạt thành đạo quả. Cũng có chư thiện nam, tín nữ sống đời sống gia đình bình thường mà vẫn thực hành được giáo pháp của Phật một các rất tích cực. Hiệu quả là gia đình hạnh phúc, anh em hoà thuận, chồng vợ thương yêu...như một phật tử tên Sigàla khi cha hấp hối có căn dặn là phải lạy sáu phương. Anh không biết gì và vì sao phải lạy sáu phương, nhưng theo lời di chúc của cha anh cứ lạy. Một hôm anh gặp Ðức Phật và ngài mới dạy cho anh rõ:
Lạy phuơng Ðông là lạy cha mẹ
Lạy phương Tây là lạy vợ con
Lạy phương Nam là lạy thầy bạn
Lạy phương Bắc là lạy quyến thuộc, láng giềng
Lạy phương Dưới là lạy tôi tớ, người làm công, thợ thuyền
Lạy phương Trên là lạy thầy dạy đạo.
Sở dĩ có được phước lợi như vậy mà chính Sigàla không biết là vì anh không hiểu ý nghĩa. Phải biết, mọi người chúng ta chỉ lễ bái những cái gì thiêng liêng, đáng sùng kính tôn trọng, chứ không phải vì mê tín thần quyền nhảm nhí. Một trong những khía cạnh nhỏ như vậy cũng đủ chỉ cho chúng ta thấy được đời sống trong thế gian, với những liên hệ gia đình, xã hội, tất cả đều được bao gồm trong kỷ luật cao cả, và đều nằm trong khung theo lối sống của phật giáo như Ðức Phật đã quan niệm.
Kết Luận:
Nhìn chung chúng ta thấy đạo Phật là con đường sống, và điều cốt yếu là mọi người phải thật hành Bát Chánh Ðạo. Trong truyền thống Phật Giáo có những lễ tục rất đẹp và đơn giản như những ngày Ðức Phật Ðản Sanh, và tất cả những ngày lễ khác, chư Phật Tử thường về chùa lễ Phật, nơi khuôn viên lễ đài những bảo tháp có tượng Phật...Tất cả ở những nơi đó thường có Phật Tử lễ bái, dâng hoa thắp đèn, và đốt hương. Ðiều nầy không nên xem tương tự với sự cầu nguyện trong các tôn giáo hữu thần. Mà phải coi đây là cách chiêm ngưỡng, tưởng nhớ lại vị đạo sư đã chỉ con đường chân chánh giác ngộ giải thoát cho nhân loại. Những sự lễ bái cổ truyền nầy, có đôi khi không cần thiết, nhưng vẫn có một giá trị ở chỗ thỏa mãn những cảm xúc và nhu cầu tôn giáo nơi những ai mới phát tâm vào con đường chân chánh về phương diện tinh thần và tâm linh, từ đó mới có thể giúp họ bước chân theo chánh đạo.
(St)
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là người đã gửi lời cảm ơn đến HoangMai vì bài post hữu ích này:
ThuanThien (19-05-2008)
Old 16-05-2008, 12:44 pm  
HoangMai
Senior Member
 

Default


Gần 25 thế kỷ trôi qua, Ðức Phật : một con người có thật trong lịch sử nhân loại - vẫn còn để lại những dấu ấn đầy tính nhân bản với những lời dạy của Ngài làm cho con người có nhiều suy tư về vị giáo chủ đã tuyên bố : "Con người và chỉ có con người mới có thể thực hiện những hoài bão lý tưởng hưóng đến Phật quả". Chúng ta có thể gọi Ðức Phật là một con người tuyệt vời trong nhân tính và cũng chỉ có Ðức Phật , từ trước đó cho đến Ngài là 1 vị giáo chủ duy nhất trên hành tinh chúng ta khẳng định vị trí của con người : "Các Người là nơi nương tựa của chính mình, là hòn đảo chứ không còn nơi nương tựa nào khác". Ngài luôn luôn cổ súy tinh thần tự lực của mỗi người để tìm lấy sự giải thoát cho chính mình và điều này như là một sợi chỉ xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống giáo lý của Phật trong hơn 40 năm hoằng pháp lợi sanh.

Hôm nay chúng ta nhìn lại nền giáo lý của Ðức Phật trong hoàn cảnh các dân tộc trên thế giới bước vào thiên niên kỷ mới, mọi người không phân biệt Âu, Á, màu da, chủng tộc đều mong muốn có một xã hội công bằng, văn minh, tiến bộ ; con người không còn khổ đau bệnh tật và đói nghèọ Ðiều này không phải của riêng ai mà của cả toàn nhân loại trên hành tinh này đều hướng về con đường lý tưởng đò Trong dòng chủ lưu đó con người là chủ nhân ông quyết định và điều này lại khẳng định một lần nữa vai trò của nền giáo lý Ðức Phật không phải là vô ích, nếu không muốn nói là giáo lý đó có những tư tưởng tiến bộ để con người tự xây dựng một xã hội mà con người đang đi tìm giải pháp.

Ðức Bổn Sư Thích Ca tên là Sidhartha họ Gotama, ra đời cách đây hơn 2.500 năm tại Bắc Ấn Ðộ vào TK VI trước Tây lịch. Thân phụ là Suđhodana (Tịnh Phạn) cai trị vương quốc của dân tộc Kàkyas (Nepal ngày ngay),mẹ là Hoàng hậu MayạTheo tục lệ lúc bấy giờ Ngài kết hôn với Công chúaYasodharà(Da-du-đà-la).Là một Thái tử đương triều sống trong cung điện đầy đủ tất cả những vật chất xa hoa, nhưng khi va chạm với đời sống bình thường thực tại, Ngài nhận thấy khổ đau của kiếp người,Ngài quyết định bỏ lại sau lưng uy quyền và địa vị để tìm giải pháp cứu mình và cứu người .

Trong 6 năm làm một nhà khổ hạnh, Ðức Phật đã đi khắp thung lũng sông Hằng tìm học những vị thầy nổi tiếng lúc bấy giờ,nhưng Ngài thất vọng vì họ không chỉ dạy được gì mà Ngài muốn đến. Ðức Phật đã từ bỏ tất cả những phương pháp mà Ngài đã học,đi theo con đường riêng của Ngài . Và một hôm Ngài phát đại nguyện dưới cội cây bồ đề trên bờ sông Neranjarà(Ni Liên Thiền) tại Buđha-GayỉBồ Ðề Ðạo Tràng) xứ Bihar ngày nay: " Dù thân ta có tan thịt ta có nát, nếu không tìm ra đạo,ta nguyện không rời chổ ngôì nầy ".

Từ nơi đây Ngài thực sự đạt được đỉnh cao của trí tuệ, thành bậc Giác ngộ, chuyển bánh xe Chánh pháp đem lại lợi lạc cho con người với những phương pháp mà Ngài đã tìm ra được ; và cũng từ đó những phương pháp mà Ðức Phật đưa ra như là những phương thuốc trị những căn bệnh mà loài người đang gặp phải : "Hỡi các Tỳ kheo, có hai thứ bệnh. Hai bệnh ấy là gì ? Bệnh thể xác và bệnh tinh thần. Có những người hưởng sự vô bệnh và thể xác trong một năm, hai năm...cả đến trong một trăm năm hay hơn nữạ Nhưng này các Tỳ kheo, hiếm thay trong thế gian này là những người hưởng được sự vô bệnh về tinh thần, ngay cả trong chốc lát, trừ phi những người thoát khỏi sự xấu xa ô uế" (chỉ cho những vị đắc A-la-hán) . Hình ảnh giáo lý và nhân cách của Ngài vẫn là bức thông điệp nhân bản muôn đời gởi đến cho nhân loại . Những lời dạy của Ðức Phật đã thành những điệp khúc bất tuyệt vượt ra ngoài không gian và thời gian, những lời dạy đó nhằm vào tinh thần giải thoát cho con người thoát khỏi khổ đau bởi những trói buộc của phiền não và vạch ra con đường để cho những ai muốn thoát ra khỏi sự trói buộc của kiếp nhân sinh. Có người cho rằng giáo lý của Phật dạy quá cao siêu khó có thể ứng dụng trong đời sống hàng ngày trong nền phát triển KHKT hôm nay ; vì nếu muốn trở thành những người Phật tử phải từ bỏ việc này, ngăn ngừa việc khác trong khi đời sống bình thường của con người ngày nay thực hiện vì " cơm, áo, gạo ,tiền " để mưu sinh cho gia đình và cho chính bản thân họ. Ðó là một quan niệm sai lầm về giáo lý Ðức Phật. Thông thường phần đông thường đi đến kết luận một cách vội vã, chủ quan , chỉ hiểu được một khía cạnh thiên lệch sau khi đọc một quyển kinh hay một cuốn sách Phật của một tác giả nào đó mà lại không hiểu hết những giáo lý cốt lõi của Ðức Phật. Ðiều này trong thời điểm này hay trong những thời điểm khác, ở Việt Nam hay một số quốc gia trên thế giới, đã từng có những quan niệm sai lầm của một số người khi đặt bút viết về giáo lý của Phật hay về những vấn đề liên quan đến Phật học, đó là chưa kể những người cố tình bóp méo hay gán ép cho Ðức Phật và giáo lý của Ngài, với ý đồ nào đó(?) . Ở đây chúng ta không phải biện minh cho những kiến giải hơn thua phải quấy của những người con Phật, mà chúng ta xác định tinh thần Phật dạy như là quan niệm sống thực nghiệm giúp con người trong thời đại của Ngài và ngay trong thời điểm hôm nay và mai sà Giáo lý đó là một chân lý vượt ra ngoài phạm trù của thời gian và cả không gian, và những lời dạy của Ðức Phật thực sự có ích cho con người . Nền giáo lý của Ðức Phật không phải chỉ dành riêng cho người xuất gia hay tại gia tu theo Phật, mà đó là của mọi người muốn ứng dụng nó vào đời sống tâm linh,mà không có sự phân biệt quy y hay chưa quy y theo Phật .

Tất cả mọi người không phải ai cũng bỏ cuộc đời, đi vào chùa hay tu viện xa lánh cuộc đời, ẩn dật chốn nào đó của núi rừng, am cốc. Ðạo Phật dù có thuần khiết cao cả đến đâu cũng sẽ trở thành vô dụng đối với mọi người vì không " đại chúng hóa " vì họ không thể áp dụng đựơc trong đời sống hàng ngàỵTrái lại khi mọi người hiểu đúng tinh thần Phật dạy, xem như là một triết lý sống, đem áp dụng vào cuộc đời mà không phải xa lánh cuộc đời thì đó mới thực sự là một tôn giáo có lợi ích thiết thực. Như vậy rõ ràng Ðức Phật và giáo lý của Ngài không bao giờ khuôn biệt trong một mô thức bắt buộc nào mà chỉ khuyên mọi người nên áp dụng tu tập thực hành Pháp trong điều kiện và hoàn cảnh mà mình đang sống, không khuyến khích con người chạy đi tìm cầu, điều kiện khác mà con người chưa có thể thực hiện được. Trong kinh Phật có nhiều câu hỏi của cư sĩ Vacchagotta được đặt rá: "Bạch Ðức Thế Tôn, có người nam và nữ nào đệ tử của Phật sống đời sống thế tục thực hành giáo lý của Ngài mà có hiệu quả, mà đạt được những trạng thái tâm linh cao siêu không ?" . Ðức Phật đã khẳng định không phải 100 hay 500 mà còn nhiều hơn thế nửa. Qua đó cho chúng ta một quan niệm về Ðức Phật và giáo lý của Ngài .

Ở thời đại ngày nay khi kinh tế thị trường như là một yếu tính của thời đại và nó được xem như một nhu cầu phát triển xã hội loài người, vậy giáo lý của Phật dạy có ảnh hưởng gì không trong sự tu tập? Chúng ta hãy xem một đoạn kinh Ðức Phật có đề cập đến nền kinh tế : "Một hôm Ðức Phật bảo ông Cấp Cô Ðộc - một thương gia danh tiếng : "Này cư sĩ, sống thường nhật có 4 thứ hạnh phúc:

1/ Sở hữu lạc : sự thọ hưởng bảo đảm về kinh tế hay tài sản kiếm được bằng phương tiện chính đáng.

2/ Thọ dụng lạc : Tiêu dùng tài sản đó một cách rộng rãi,cho chính mình ,cho gia đình bà con,bè bạn, trong những việc công đức.

3/ Vô trái lạc : Không bị nợ nần đeo bám.

4/ Vô tội lạc : Sống một đời sống trong sạch, không phạm những điều ác trong công việc mưu sinh ngoài xã hội".

Qua những điều nêu trên cho chúng ta thấy Ðức Phật đã có những cái nhìn thấu đáo về nền kinh tế trong thời kỳ của Ngài khi dạy một cư sĩ sống làm sao để có hạnh phúc, Ngài không cho rằng chỉ thuần có đời sống tinh thần ; mà phải làm sao quân bình giữa đời sống vật chất và tinh thần . Một mặt Phật giáo khuyến khích con người cần có sự tiến bộ phát triển về vật chất, mặt khác Ngài cũng nhấn mạnh đến sự phát triển về đạo đức và tâm linh để có một xã hội hoà bình an lạc.

Ngày nay con người sống trong hận thù,sợ hãi lo âu và khủng hoảng, nghi ngờ đố kỵ nhau một cách căng thẳng. Nền công nghệ KHKT phát triển một cách chóng cả mặt màỵ Ðứng trước sự sợ hãi do chính mình tạo ra, bao nhiêu thiên tai thảm họa đang đè nặng lên vai con người trong thiên niên kỷ mới phải khắc phục ; thông điệp của Ðức Phật dù cách đây hơn 25 thế kỷ, nhưng khi nhìn vô số lời dạy còn lưu lại cho đến hôm nay, mọi người con Phật đều có thể xem như là kim chỉ nam trong việc xây dựng đời sống cộng đồng. Nơi tiềm tàng trong nền giáo lý và nhân cách của Phật mọi người có thể rút ra một bài học ứng xử giúp con người tìm về chính mình, làm chủ vận mệnh tương lai do mình tạo rạ Ðó là tình thương, khoan hồng, rộng lượng , thông cảm, tôn trọng đối với mọi sự sống hãy vứt bỏ đi lòng ích kỷ, hận thù và bạo động... Nhân loại đang sống trong bản lề của một thiên niên kỷ mới cũng sống và mong ước thế giới không còn hận thù khổ đau mà chúng ta hằng mong muốn : "Tâm tịnh quốc độ tịnh".Trước khi nhập Niết Bàn Ðức Phật đã ân cần tuyên bố: " Bất luận Chơn Lý nào mà Như Lai đã truyền dạy, các người hãy thực hành một cách khéo léo,trao dồi phát triển đầy đủ, để đời sốngthiêng liêng được duy trì trường tồn vĩnh cửu,vì tình thương chúng sanh,vì sự tốt đẹp và hạnh phúc của nhiều người ... " Những lời nầy làthông điệp muôn đời của tình thương yêu nhân loại gởi đến cho toàn thể mọi người khắp hành tinh đang thực hiện lời dạy của Ngài, hãy vì hạnh phúc của nhiều người, hãy xây dựng hạnh phúc cho mình cho người .

( St)
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là người đã gửi lời cảm ơn đến HoangMai vì bài post hữu ích này:
VoDanh (17-05-2008)
Old 19-05-2008, 5:03 pm  
VoDanh
Super Moderator
 
VoDanh's Avatar
 

Default
Nhân kỉ niệm ngày Đức Phật đản sinh,mời các bạn vào xem những tấm ảnh về các Thánh tích Phật giáo:

http://www.lebichson.org/Bodhgaya.htm

Một vài bức ảnh:
-Mặt trước Tháp Đại Giác
-Tôn tượng Đức Phật thờ bên trong Tháp Đại Giác
-Cội Bồ-Đề thiêng được bảo quản đặc biệt
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 4 người đã gửi lời cảm ơn đến VoDanh vì bài post hữu ích này:
dat_mel (19-05-2008), dung9610 (20-05-2008), HoangMai (19-05-2008), ThuanThien (19-05-2008)
Old 19-05-2008, 11:47 pm  
HoangMai
Senior Member
 

Default
cảm ơn bác Vô Danh , những bức ảnh thật tuyệt !
Hoàng Mai góp nhặt tiếp 1 bài về Đại Bi Tâm và Quán ÂM Bồ Tát .

Đại bi tâm

Nói đến Từ Tâm thì chúng ta nghĩ tưởng đến đức Di Lặc Bồ Tát, ngài còn có danh hiệu là Từ Thị, với nụ cười rộng mở, ngài thể hiện sự an lạc, nguồn vui bao la, không giới hạn. Nói đến Bi Tâm hay Ðại Bi Tâm thì chúng ta nghĩ tưởng đến đức Quán Thế Âm, tay cầm nhành liễu và bình nước cam lộ, hình ảnh này biểu tượng cho sự cứu chúng sinh thoát mọi phiền não và khổ nạn.

Từ tâm tiếng Pali là Metta, tiếng Phạn là Maitri, ngài Di Lặc có tên là Maitreya, và Bi Tâm tiếng Phạn là Karuna, hai tiếng Từ và Bi thường được hiểu là ban vui và cứu khổ. Ở nơi đâu có Từ thì có Bi. Từ và Bi sát cánh, không hề tách rời. Nói một cách dễ hiểu : ví như gặp một người đang khổ sở vì bệnh tật ốm đau, với lòng Từ, chúng ta mong cầu cho người đó được hết khổ sở, bệnh tật nghĩa là chóng lành mạnh, tìm thấy lại trạng thái an vui và với lòng Bi, chúng ta sẽ tìm cách nào cho người đó tiêu trừ bệnh tật, hoặc là nhờ thầy thuốc chữa trị, hoặc là tìm nguyên do của căn bệnh đó mà có lời khuyên bảo, chỉ cho người đó những gì là lợi là hại cho sức khoẻ dể người đó không còn phải mắc vào bệnh khổ đó nữa. Ðó là hành xử theo Bi tâm vậy.

Một thí dụ khác, khi gặp người nghèo khó neo đơn, với Từ tâm, chúng ta sẽ động lòng trước cảnh khổ đó, chúng ta mong muốn cho người đó được ấm no hạnh phúc, với Bi tâm, chúng ta sẽ tìm cách nào để giúp cho người đó thoát khỏi hoàn toàn cảnh khổ nghèo đói, hoặc tìm cách giúp cho người đó có công ăn việc làm, hoặc có chỗ để nương tựa.

Từ Tâm thì động lòng, thương tưởng, hướng về, ước muốn chúng sanh được an lạc hạnh phúc, Bi Tâm thì tìm cách cứu ra khỏi cảnh khổ. Như một kẻ sắp chìm sông, chết đưối thì Từ tâm là ý muốn, lòng mong cầu cho người đó đừng chết đuối, được cứu thoát lên bờ, và bàn tay vội đưa ra để kéo người đó lên bờ chính là hành động của Bi tâm. Như thế, Bi tâm là hành động đưa đến hiệu quả ngay, nhưng hành động này có được là do Từ tâm thúc đẩy. Do đó mà nói Từ và Bi thì sát cánh, hai mà như một vậy.

Như thế Từ Tâm là lòng thương tưởng đến chúng sanh và mong cầu cho tất cả đều an lạc, Bi Tâm là hành động cứu khổ để ban vui, làm cho thoát ra khỏi trạng thái đớn đau ngặt nghèo. Có Từ thì liền có Bi, có Bi là vì đã có Từ. Từ và Bi không tách rời. Khi đã có ý tưởng khởi lên để ban vui thì liền có hành động kèm theo để cứu khổ. Cho nên trong Phật giáo hai chữ Từ Bi ( Metta- Karuna ) luôn đi đôi với nhau.

Nhắc lại bài kinh " Từ Bi "đúng ra phải dịch là kinh Từ (Metta Sutta ) mà chúng ta đã học kỳ trước thì Từ tâm là :

Ðem an vui đến cho muôn loài
Cầu chúng sanh thảy đều an lạc

Và :

Tung rải từ tâm khắp vũ trụ
Mở rộng lòng thương không giới hạn

Chúng thấy rõ trong bài kinh này đức Phật dạy làm cách nào để phát khởi Từ tâm tức là mở rộng lòng thương đến tất cả chúng sinh, xem chúng sinh và ta là như một, không phân biệt kẻ thân người sơ, dù ta quen hay không quen, biết hay không biết, giống ta hay khác ta...Ta vẫn mở rộng lòng ao ước hạnh phúc an lạc cho những chúng sinh này, khi tu tập được nguồn Từ tâm này rồi thì tâm Bi tự nhiên phát khởi. Từ tâm thúc đẩy Bi tâm đến một hành động cụ thể, thiết thực. Tâm Bi là câu hỏi được đặt ra : " Phải làm gì và làm thế nào, hành động bằng cách nào để đem lại an lạc hạnh phúc giải thoát cho chúng sinh " ?

Nói đến Bi Tâm thì không thể nào mà không nhắc đến đức Quán Thế Âm Bồ Tát bởi vì ngài là hiện thân của Bi tâm, là hành động hữu hiệu nhất để kéo chúng sinh ra khỏi cơn đau, nỗi khổ, cảnh hoạn nạn, khốn khó, ngặt nghèo, sợ hãi. Do đó, qua bài này, chúng ta sẽ tìm hiểu đức Quán Thế Âm ngài là ai cùng các đại nguyện của ngài và tìm hiểu như thế nào là Ðại Bi Tâm.

1. Quán thế âm bồ tát :

Nguyên danh hiệu ngài theo Phạn ngữ là Avalokitesvara, dịch theo âm là A Bà Lô Kiết Ðế, dịch nghĩa là " vị chúa tể có cái nhìn thông suốt xuống thế gian nhờ lắng nghe các âm thanh."

Nhưng vì sao gọi là Quán Thế Âm ? Ðó là bởi xét theo hạnh tu chứng của ngài là do nơi tánh nghe, từ âm thanh mà nhập vào Chơn tánh, từ đó hiện ra các ứng thân để hóa độ chúng sinh. Cũng từ âm thanh mà quán xét chúng sinh như thế nào, hiểu được, thông suốt chúng sinh muốn gì, nghĩ gì, khiến cho giải thoát các khổ não và ban cho sự không sợ hãi, do nhơn duyên này mà ngài có danh hiệu là Quán Thế Âm.

Cũng có nơi dùng danh hiệu Quan Thế Âm thay vì Quán thế Âm song chữ " quan " là quan sát xem xét nhưng không có nghĩa rộng và sâu như " quán " còn mang nghĩa thấu triệt, thông suốt, cái thấy hay cái nhìn bao quát vạn sự vạn vật.

Như thế, Quán Thế Âm là từ nơi âm thanh được nghe mà lại có cái thấy thông suốt. Âm thanh này xuất phát từ đâu ? Từ thế gian là nơi cư ngụ của loài hữu tình tức là chúng sanh trong sáu cõi vậy.

Chỉ có các kinh điển Ðại Thừa mới nhắc đến ngài và các kinh được biết đến nhiều nhất là Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm thứ 25, tựa là " Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm " và kinh Thủ Lăng Nghiêm nơi chương đức Phật hỏi 25 vị thánh do tu pháp môn gì mà được chứng quả thì Bồ Tát Quán Âm thưa là do nhĩ căn mà được ngộ đạo, có nghĩa là đối với âm thanh không khởi vọng niệm mà lại xoay cái nghe trở lại tự tánh. Vào được Chơn tánh thì hết sanh hết diệt nhưng đầy đủ diệu dụng để cứu vớt chúng sinh, không hề chướng ngại.

Ngài còn có một danh hiệu khác là Quán Tự Tại. Tự tại ở đây được hiểu trong cái nghĩa Tự tại vô ngại, chỉ những vị đã chứng đắc, rời bỏ những phiền não trói buộc. Một địa vị mà Bồ Tát đắc nhập gọi là Tự Tại Ðịa, ở đây Bồ Tát được Tự Tại Lực hay là Sức Tự Tại, ở nơi Lực này, vị Bồ Tát có thể tùy ý hóa sanh bất cứ nơi nào để độ chúng sinh. Vị đắc Tự Tại Lực này thì được gọi là Tự Tại Nhơn. Tự Tại nhơn thì chứng đắc tám đức Tự Tại :

1. Dùng một thân mà thị hiện nhiều thân
2. Thân vi trần hiện khắp cùng Tam thiên đại thiên thế giới
3. Thân nhẹ nhàng có thể bay đi khắp cùng vô số thế giới như số cát của hai mươi sông Hằng
4. Hiện ra vô lượng hình tướng mà vẫn ở một cõi
5. Sáu căn tự tại : có thể dùng một căn mà thế cho các căn
6. Ðắc tất cả pháp mà tâm không chấp là đắc
7. Những lời lẽ thuyết pháp của ngài dù trải qua vô lượng kiếp vẫn không mất
8. Dù người ta chẳng thấy nhưng thân ngài hiện khắp nơi, như hư không.

Do chứng đắc các đức Tự Tại như thế mà Bồ Tát Quán Âm còn được gọi là Quán Tự Tại.

Quán Tự Tại còn có hai nghĩa :

1. Quán rõ các pháp đều do tâm biến hiện nên chứng được quả tự tại
2. Quán biết căn cơ của chúng sinh nên sự giáo hóa được tự tại.

Chúng ta không tìm thấy trong kinh điển nói về nguồn gốc của ngài, từ đâu sinh ra, ở xứ nào, cha mẹ nào...Chúng ta chỉ được biết bổn sư của ngài là đức Phật A Di Ðà nên hình tượng của ngài luôn luôn được tạc với hình tượng đức A Di Ðà trên đỉnh đầu. Và khi nói đến Di Ðà Tam Thánh thì có ngài ở bên phía hữu của đức A Di Ðà, bên trái thì có đức Ðại Thế Chí, đó là hai vị phụ tá đức A Di Ðà để tiếp độ chúng sinh về cõi cực Lạc.

Bồ Tát Quán Âm là nam hay nữ ? Theo truyền thống Tây Tạng, ngài có danh hiệu là Tchènrézi và được sinh ra từ đức A Di Ðà ( hoá sinh mà có ) dưới dạng thân nam và tất cả các đức Ðạt lai lạt ma là hiện thân của ngài, Tchenrézi biểu hiện cho tâm từ bi của hết thảy chư Phật, hình tượng của ngài khi mang dạng người nữ thì có danh hiệu khác là Tara, hóa sinh từ Chenrézi. Ðối với Phật giáo Tây Tạng, A Di Ðà Phật hay Quán Thế Âm Bồ Tát đều cần phải được hiểu như là biểu hiện của Pháp thân, như thế thì nam hay nữ, vấn đề không được đặt ra.

Tại các nước theo truyền thống Bắc tông như Trung Hoa, Nhật Bản và nước Việt Nam ta thì tượng Quán Thế Âm bồ Tát thường đưọc tạc dưới dạng người nữ, có lẽ vì lòng từ bi thường được ví với lòng từ mẫn của người mẹ đối với con. Người đời còn gọi ngài là Phật bà, theo các tích truyện tương truyền đến bây giờ thì đều tả ngài duới hình ảnh người phụ nữ như chuyện Quan Âm Thị Kính. Một hình ảnh khác của ngài còn được tả dưới dạng Bạch Y Quán Âm.

Thật ra hình tướng không phải là điều quan trọng bởi theo bản kinh Thủ Lăng Nghiêm hay Phẩm Phổ Môn đều có dạy là ngài thị hiện các thứ thân hình, tùy mỗi trường hợp, nếu cần hiện thứ thân hình nào mới độ được thì ngài thị hiện thân hình đó. Như thế, thiết nghĩ vấn đề nam hay nữ không cần phải đặt ra.

Tại sao gọi là Bồ Tát ?

Bồ Tát tiếng Phạn là Bodhisattva, dịch âm là Bồ Ðề Tát Ðỏa, dịch nghĩa là chúng hữu tình đã được giác ngộ hoặc đang trên đường tiến đến giác ngộ. Bồ đề nghĩa là " Giác " và "Tát đỏa " là " hữu tình. Với tinh thần đại thừa, bồ tát phải được hiểu đầy đủ qua ba nghĩa là :

1. Tự lợi : tức là " Hữu tình giác ", chúng hữu tình đã giác ngộ nhưng chưa được hoàn toàn như Phật.

2. Lợi Tha : tức là " Giác hữu tình ", phần mình đã giác ngộ rồi liền giác ngộ chúng sanh.

3. Tự lợi và Lợi tha : Tự giác và Giác tha, nghĩa là trên thì cầu Phật đạo để giác ngộ cho mình, dưới giáo hóa chúng sinh.

Theo nghĩ thứ nhứt là Tự lợi thì Bồ Tát đẵ được cái " Trí ", theo nghĩa thứ hai thì Bồ Tát được cái " Bi " vì thương xót và độ chúng sinh. Nghĩa thứ ba thì bao gồm cả Bi và Trí, đầy đủ " Lý, Sự " vô ngại nên được gọi là Quán Tự Tại. Bồ Tát Quán Âm thì có đủ tất cả các tánh đức nói trên và bởi từ nơi Chơn tánh ngài quán xét chúng sanh qua nhĩ căn, nghe tiếng tăm mà cứu độ, ở nơi Vô Vi mà khởi tâm Ðại Bi, dùng vô lượng phương tiện thiện xảo mà tế độ quần sanh không có chướng ngại cho nên ngài còn được gọi là Quán Tự Tại là như vậy.

Ðược gọi là Bồ tát vì vị này không những chỉ tu cho mình mà Phát Bồ Ðề Tâm tức là còn tu vì kẻ khác, giúp kẻ khác được giác ngộ như mình. Ðức Thích Ca trước khi thành Phật, ngài là một vị Bồ Tát vì ngài không chỉ tu cho riêng mình mà vừa tự độ và độ tha vậy.

Bồ tát lấy việc lợi ích chúng sanh làm điểm khởi đầu, phàm làm việc gì ngài cũng nghĩ đến lợi tha trước tự lợi. Bồ tát không chán ghét hữu tình, nhờ sự thông cảm, đồng cảm nỗi khổ của hữu tình mà không có lòng sân hận, nuôi dưỡng tánh từ bi để có thể hoà nhập vào thế gian mà không bị thế gian lôi cuốn. Bồ tát do từ trong hạnh lợi tha mà thành Phật. Ðó là thiện xảo của Bồ tát hạnh. Tự lợi và lợi tha thúc đẩy lẫn nhau. Tuy chưa độ mình xong, Bồ tát vẫn có thể độ người trước. Con đường của Bồ tát còn được gọi là con đường "Xuất tục nhập thế" dựa trên sáu pháp tu ( Lục độ ) : bố thí , trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn , thiền định và trí huệ. Sáu pháp này đều dựa trên tâm đại bi nên nói " Bồ tát chỉ sinh ra từ đại bi, không sinh ra từ cái thiện nào khác. " Bồ tát gắn liền với đại nguyện :" Có một chúng sinh nào chưa thành Phật thì quyết không chứng Niết bàn ở cõi này." Tâm lượng của Bồ tát thật vĩ đại như thế nên mới gọi là Ðại Bi Tâm.

Trong bài này chúng ta sẽ dựa vào một số bản kinh để tìm hiểu Bồ Tát Quán Thế Âm.

2. kinh thủ lăng nghiêm và Bồ tát quán âm :

Hãy cùng đọc đoạn kinh sau đây :

" Khi đó, đức Quán Thế Âm Bồ Tát đứng dậy lạy Phật cung kính thưa " rằng : - Bạch Thế Tôn, con nhớ từ hằng hà sa số kiếp về trước, có "Phật ra đời tên là Quán Âm. Con đối trước đức Phật Quán Âm phát "tâm bồ đề. Ngài dạy con từ nơi nghe rồi nhớ và tu mà vào được "chánh định. Khi mới nghe tiếng, không chạy theo thinh trần, xoay "cái nghe trở vào chơn tánh. Vì chỗ vào đã yên lặng, nên động và tịnh "hai món trần cảnh không sanh. Như thế lần lần tăng tấn đến cái "nghe và cảnh bị nghe cũng hết. Cũng không an trụ ở chỗ hết nghe. "Cái biết hết và cái bị biết cũng không còn. " Cái biết " và cái " bị "biết " cả hai đều không, đến cùng tột viên mãn. Song hãy còn cái "không", phải tiến lên một từng nữa là cái " không " với cái " bị "không " cả hai đều diệt hết, thì cái chơn tâm tịch diệt hiện tiền.

Qua đoạn kinh trên Bồ Tát nhờ công phu tu trì, từ nơi Chánh định mà Ngộ được Chơn tâm, từ Chơn tâm khởi ra diệu dụng mà Bồ Tát trình bày tiếp như sau :

" Bạch Thế Tôn, do con tu như vậy, nên vượt ra khỏi thế gian và xuất "thế gian. Vì đã được chơn tâm thanh tịnh sáng suốt viên mãn khắp "cả mười phương cùng với chư Phật và chúng sanh đồng một thể tánh "ấy nên con được hai điều thù thắng : - Hiệp với đức " Từ độ sanh " "của chư Phật. - Hiệp với lòng " Bi ngưỡng mộ " của tất cả chúng "sanh. Và được các món diệu dụng như sau :

" Bạch Thế Tôn, con nhờ chứng được chỗ đồng thể đó, nên cùng với "chư Phật hiệp đức từ, hiện ra 32 ứng thân để tùy thuận theo các "chúng sinh mà hóa độ :

"1. Hiện thân Phật
"2. Hiện thân Ðộc Giác
"3. Hiện thân Duyên Giác
"4. Hiện thân Thanh Văn
"5. Hiện thân Phạm Vương
"6. Hiện thân Ðế Thích
"7. Hiện thân Trời Tự Tại
"8. Hiện thân Ðại Tự Tại
"9. Hiện thân Ðại Tướng Quân
"10. Hiện thân Tứ Thiên Vương
"11. Hiện thân Thái Tử
"12. Hiện thân Vua
"13. Hiện thân Trưởng Giả
"14. Hiện thân Cư Sĩ
"15. Hiện thân Tể Quan
"16. Hiện thân Bà La Môn
"17. Hiện thân Tỳ Kheo
"18. Hiện thân Tỳ Kheo Ni
"19. Hiện thân Ưu Bà Tắc
"20. Hiện thân Ưu Bà Di
"21. Hiện thân bà chúa
"22. Hiện thân đồng nam
"23. Hiện thân đồng nữ
"24. Hiện thân Trời
"25. Hiện thân Rồng
"26. HIện thân Dược Xoa
"27. Hiện thân Càn Thát Bà
"28. Hiện thân A Tu La
"29. Hiện thân Khẩn Na La
"30. Hiện thân Ma Hầu La Già
"31. Hiện thân Người
"32. Hiện thân các Chúng sinh
" Bạch Thế Tôn, con nhờ tu pháp này mà chứng được chỗ đồng thể "với chúng sinh, nên cùng với chúng sinh đồng một lòng bi ngưỡng "mộ. Vì thế khiến cho các chúng sinh đặng 14 món không sợ :
"1. Chúng sinh khổ não, quán tiếng tăm được giải thoát
"2. Vào lửa không cháy
"3. Vào nước không chìm
"4. Quỷ không hại được
"5. Dao chặt không đứt
"6. Quỷ không thể thấy được
"7. Không ai trói cột được
"8. Không ai trộm cướp được
"9. Lìa tâm dâm dục
"10. Lìa nóng giận
"11. Lìa si mê
"12. Cầu nam đặng nam
"13. Cầu nữ đặng nữ
"14. Niệm danh hiệu Quán Âm công đức bằng niệm danh hiệu của "hằng hà sa Bồ Tát.
"Bạch Thế Tôn, con nhờ tu pháp môn này mà đặng bốn món thần "diệu không thể nghĩ bàn :
"1. Hiện nhiều đầu, nhiều tay và nhiều mắt
"2. Hiện hình nói thần chú
"3. Chúng sanh hy sinh tài sản cầu con thương xót
"4. Chúng sanh cầu chi được nấy
" Bạch Thế Tôn, do đó mà đức Phật Quán Âm thọ ký cho con tên là "Quán Thế Âm".
Nguồn gốc của danh hiệu Quán Thế Âm được tìm thấy qua đoạn kinh trên và cũng căn cứ theo đoạn kinh vừa tả trên mà chúng ta còn thấy hình tượng Bồ Tát Quán Âm với nhiều đầu, nghìn tay, nghìn mắt. Có những hình tượng tạc ngài với những con mắt nơi mỗi bàn tay điều này chứng tỏ Ðức tự tại mà ngài đã đạt được : sáu căn tự tại, có thể dùng một căn mà thế cho sáu căn. Cũng như tả ngài khi nghe tiếng tăm mà thấy và hiểu thông suốt chúng sinh, có nghĩa là như nơi lỗ tai mà có con mắt vậy. Cũng nói là " Lục căn hỗ dụng " nên nơi bàn tay mà có con mắt có thể thấy, nơi lỗ tai nghe mà cũng thấy được như có con mắt nơi tai vậy. Thật ra thì Bồ tát do đã vào Chánh định, từ nơi Chơn tánh hay Chơn tâm mà cái nghe, thấy, biết chẳng còn giới hạn nơi sáu căn nữa. Nghe, thấy, biết...đều là do Tâm nghe, thấy, biết.

3. Phẩm phổ môn và bồ tát quán thế âm :

Lời mở đầu của phẩm này là Bồ Tát Vô Tận Ý thưa hỏi Phật " Do nhơn duyên gì mà ngài có tên là Quán Thế Âm ? " và đức Phật dạy rằng : " Như có vô lượng trăm ngàn muôn ức chúng sinh đương chịu các khổ não, nghe được danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, nhứt tâm thiết tha xưng danh hiệu ngài tức thời Bồ Tát Quán Thế Âm liền xem xét tiếng tăm kia mà khiến cho được giải thoát, do nhơn duyên này mà tên ngài được gọi là Quán Thế Âm ".

Như thế thật là đã rõ ràng vì sao mà ngài có danh hiệu là Quán Thế Âm.

- Nếu so sánh với bản kinh Thủ Lăng Nghiêm thì chúng ta tìm thấy một ít sai biệt nơi 32 hóa thân song thiết nghĩ điều này không quan trọng bởi kinh nói " Hiện thân các chúng sinh " thì như thế có bao nhiêu hình tướng của chúng sinh thì ngài đều có thể hiện ra như thế nếu cần phải dùng hình tướng đó để hóa độ chúng sinh. Nói 32 chỉ là tượng trưng một số hình tướng nơi thế gian thôi.

- Như thế nào là hóa độ chúng sinh ? Bằng cách nói Pháp để độ chúng sinh vậy. Trong phẩm Phổ Môn thì dạy rất rõ nơi đoạn Bồ tát Vô Tận Ý hỏi Phật " Bồ Tát Quán Âm dạo đi khắp cõi Ta bà như thế nào ? Ngài dùng sức phương tiện gì để thuyết pháp độ thoát chúng sinh ? " Thì đức Phật trả lời : " Nếu có chúng sanh trong quốc độ cần nhờ thân Phật mới độ được họ thì bồ tát Quán Thế Âm liền hiện thân Phật để vì họ nói Pháp." ( và tiếp tục như thế qua 32 thứ thân hình, dùng phương tiện này để nói Pháp hóa độ chúng sinh )

Ðiểm này rất quan trọng cần ghi nhớ : Bồ tát không phải chỉ cứu chúng sinh thoát khỏi những tai nạn hay cảnh khổ mà mục đích của ngài còn là nói Pháp để từ đó chúng sinh có thể tự mình giải thoát nhờ Pháp vậy. Nghĩa là từ cái " Nhân " mà Bồ tát gieo là nghe tiếng tăm của chúng sinh thì liền có cái " Duyên " để Bồ tát chỉ dạy Giáo Pháp, đưa chúng sinh vào con đường mà chúng sinh có thể tự mình giải thoát hoàn toàn mọi khổ đau, con đường này phải tự chúng sinh thực hiện, không ai làm giùm cho chúng sinh, ngay cả Bồ tát. Sự cứu độ của Bồ tát cũng có giới hạn của nó, nương sức mình tự nổ lực giải thoát cho chính mình mới là sự giải thoát hoàn toàn, đích thực. Bồ tát chính là người gieo Nhân để kết Duyên giúp chúng sinh vậy.

- Bàn về các thứ tai nạn mà ngài che chở thì cả hai bản kinh đều nhắc đến, nhưng riêng xét về Phẩm Phổ Môn thì ngoài các nạn nước, lửa, đao kiếm, lao tù xiềng xích, ác quỷ, trộm cướp, lại còn thêm các nạn khác như thuốc độc, thú dữ, gió bão, sấm sét, kiện tụng, té từ trên cao xuống.

Thông qua bốn câu kệ sau đây, thì chúng hiểu rằng các tai nạn nêu ra trên cũng chỉ tượng trưng cho một số ít chứ không thể nêu ra vô số khổ nạn mà chúng sinh phải chịu, mà Bồ Tát thì cứu tất cá các khổ nạn không giới hạn :

Chúng sanh bị khổ ách
Vô lượng khổ bức thân
Quán âm sức trí diệu
Cứu đời thoát các khổ.

Nói tóm lại là tất cả khổ nạn nơi bốn nẻo sinh tử : Ðịa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và thân người thì có sanh, già, bệnh, chết và vô lượng phiền não, vô lượng ách nàn thì ngài đều cứu cả.
- Phẩm Phổ Môn được gọi là Phổ Môn là do tính cách phổ cập, phổ quát, rộng lớn, của cánh cửa "Pháp"(môn là nói dến pháp môn tu tập), nhờ tu một Pháp "Quán Thế Âm" này mà có thể thâm nhập tất cả các Pháp khác và độ vô lượng chúng sanh không thể nghĩ bàn như thế mà kinh có tựa đề là Phổ môn.

Lại còn gọi là Phổ môn bởi vì mọi người, ai ai cũng đều có thể tu tập pháp môn này, bất cứ ở trình độ hay căn cơ nào.

Lại nữa, bởi vì Pháp môn tu tập này dựa trên tâm Từ và Bi, là nền tảng và cốt lõi cho sự tu tập, là nền móng của sự phát Bồ đề tâm. Theo tinh thần của Ðại thừa hay Bồ tát đạo thì tâm từ bi là mẫu số chung, là điều kiện thiết yếu của người mong cầu giải thoát, không thể nào có sự giải thoát cho mình nếu không động lòng mong cầu giải thoát cho người. Tâm Ðại Từ Ðại Bi chính là tâm Phật, như thế nếu muốn thành Phật thì cũng phải thành tựu Tâm Ðại Từ Ðại Bi này.

Dù tu tập bất cứ pháp môn nào đều phải có sự phát Bồ đề tâm do đó mà nói Pháp môn " Quán Thế Âm " bao trùm tất cả các pháp môn khác và được gọi là Phổ môn là vậy.

Rốt cuộc Pháp môn " Quán Thế Âm " chính là cánh cửa Pháp dẫn dắt chúng ta đến quả vị Phật vậy. Vì sao vậy ? Vì pháp môn này viên mãn lợi tha và tự lợi, bồ tát hoàn thành đức hạnh nhờ nương vào pháp, nương vào thế gian, nương vào tự sức mình. Bồ tát cùng với người mà thành Phật. Phổ môn cũng là pháp môn không hề lìa thế gian mà thành tựu đạo quả, vừa tịnh hoá nhân sinh vừa viên mãn rốt ráo.

- Xét về hai điều mong cầu, cầu sanh con trai, cầu sanh con gái thì cả hai bản kinh đều có nói.

- Xét về ba điều trừ dâm dục, sân hận và si mê thì cả hai bản kinh cũng đều có nói.

- Xét về điều " Niệm danh hiệu Quán Âm công đức bằng niệm danh hiệu của hằng hà sa Bồ Tát " thì cả hai bản kinh đều có dạy như nhau, chỉ khác ở nơi bản Phổ Môn thì nói rõ là trì niệm danh hiệu của " 62 ức hằng hà sa Bồ Tát ".

- Nơi bản kinh Thủ Lăng Ngiêm dạy rõ " chúng sanh cầu chi được nấy ", nơi bản Phổ Môn chúng ta không thấy câu nầy, chỉ thấy có hai điều mong cầu được nêu ra song cũng chỉ là hai điều tượng trưng cho lòng mong cầu hạn hẹp của chúng sinh, song chúng sinh thì vô lượng khổ bức thân, cho nên có vô lượng điều mong cầu và tất nhiên là Bồ tát sẽ đáp ứng nếu chúng sinh thiết tha, thật lòng tin nơi ngài. Hãy đọc qua mấy câu kệ sau đây :

Diệu Âm Quán Thế Âm
Phạm Âm Hải Triều Âm
Hơn hết tiếng trên đời
Cho nên thường phải niệm
Niệm niệm chớ sinh nghi
Quán Âm bực tịnh thánh
Nơi khổ não nạn chết
Ngài là nơi nương tựa
Ðủ tất cả công đức
Mắt lành trông thế gian
Biển phước lớn khôn lường
Thế nên phải đảnh lễ.

Chúng ta hiẻu rằng với công đức và biển phước khôn lường của ngài thì không thể nào chỉ đáp ứng hai điều mong cầu của chúng sinh được. Dù kinh chỉ có nêu ra hai điều mong cầu nhưng chắn chắn là ngài cũng đáp ứng mọi điều mong cầu của chúng sinh với tâm Ðại Bi của ngài.
- Xét về điều " Ban cho sự không sợ hãi " thì cả hai bản kinh đều có dạy như nhau. Nơi bản Phổ Môn thì nêu rõ : " Vị Bồ tát này gặp chúng sinh sa vào trong nguy cấp kinh sợ thì thường ban cho sự không sợ hãi cho nên trong thế giới Ta bà đều gọi ngài là Ðấng ban cho sự không sợ hãi ".

- Xét về sự trì niệm danh hiệu ngài thì phẩm Phổ Môn dạy rất rỏ ràng, lập đi lập lại nhiều lần, do " cung kính thiết tha xưng niệm danh hiệungài " mà được thoát khỏi các nạn khổ. Kinh Thủ Lăng Nghiêm thì chỉ thấy nơi một câu "chúng sanh hi sinh tài sản cầu con thương xót " nếu có cầu tất nhiên phải có xưng niệm danh hiệu ngài. Song điểm đáng cho chúng ta chú ý là " Cung kính hiết tha xưng niệm danhhiệu" chẳng khác nào trong kinh A Di Ðà là " Trì niệm danh hiệu Phật A Di Ðà cho đến chỗ " Nhứt tâm bất loạn " Phải chăng cả hai đều là pháp Niệm Phật Tam Muội ?

Sự trì niệm danh hiệu này rất là quan trọng bởi có được cảm ứng hay không là do nơi tâm niệm danh hiệu này, phải có lòng thành, lòng tin không thối chuyển và phải thường xuyên trì niệm chứ không phải chờ tới lúc gặp ách nàn mới kêu cứu. Sự thường xuyên trì niệm này sẽ đưa đến " Nhứt Tâm ". Do đó mà có thể so sánh Pháp tu Phổ Môn cũng là Pháp tu Niệm Phật Tam Muội vậy. Mà tu pháp này cũng là tu thiền định không khác. Như nơi bản kinh Thủ Lăng Nghiêm đã trích dẫn ở trên dạy rằng Bồ tát Quán Âm do đã đạt được Chánh Ðịnh mà thể nhập Chơn Tánh. Vào được Chánh định thì phải có công phu thiền định vậy.

4. Quán Thế Âm Bồ Tát và Tâm Ðại Bi :

Phần trên chúng ta đã định nghĩa như thế nào là Bi tâm, nghĩa là lòng thương tưởng, thương xót muốn ban vui và cứu khổ chúng sinh, là hành động thiết thực, tích cực, đáp ứng ngay lòng mong cầu của chúng sinh, là bàn tay hữu hiệu kéo chúng sinh ra khỏi biển khổ ngay một khi đã nghe được tiếng kêu cầu cứu của chúng sinh.

Hàng phàm phu chúng ta đều có thể tu luyện để có Bi Tâm, song chỉ có hàng Bồ Tát mới có Ðại Bi Tâm, như thế nghĩa là gì ?

Bởi vì cái Tâm Ðại Bi thì vô cùng vĩ đại, vô lượng, vô hạn, như trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm đã dạy thì Bồ Tát Quán Âm nhờ tu nhĩ căn và vào được Chơn tánh do đó mà phát ra vô lượng diệu dụng để cứu độ chúng sinh. Bi Tâm của ngài vô cùng bình đẳng, không phân biệt, không bỉ thử, không chọn cứu người này mà bỏ người kia, không vì một lý do này hay lý do kia mà cứu độ, không có lòng mong cầu chờ đợi gì nơi người mình cứu, chỉ vì một lòng thương tưởng chúng sinh trong đường khổ mà cứu thôi. Cững vì đã thể nhập Chơn Tánh, ở nơi Tâm Vô Vi mà cứu độ cho nên tâm này không có chướng ngại, không có sợ hãi mà lại còn ban bố sự không sợ hãi đó cho chúng sinh. Bi Tâm này mới được gọi là Ðại Bi Tâm.

Như thế nào gọi là Tâm Vô Vi ? là Tâm không còn chấp trước, không chấp cả hành vi động tác khi dụng công tu hành hay cứu độ muôn loài, tâm không còn chấp có tu có chứng có thiện có ác có tịnh có nhiễm có chủ thể khách thể có hình tướng không hình tướng có sắc không sắc có thô có tế có xấu có đẹp có thêm có bớt...Tâm như vậy là Chơn tâm, là tâm hợp với trí Bát Nhã vậy. Ðại Bi Tâm thì phải đi đôi với Trí Tuệ là thế.

- Ðại Bi Tâm còn đi đôi với Ðại Nguyện. Bởi vì không những đã có lòng thương tưởng đến chúng sinh mà thôi, Bồ Tát còn phát nguyện lớn cứu độ khắp cùng chúng sinh không giới hạn, chỉ khi nào tất cả chúng sinh thoát khổ rồi thì nguyện của ngài mới cùng tận, ngài luôn luôn sát cánh cùng chúng sinh, ở trong biển khổ trầm luân của chúng sinh mà cứu độ, ngài từ chối không thể nhập Niết Bàn vui hưởng an lạc cho riêng mình.

Ðến đây chúng ta sẽ học qua các lời nguyện của Quán Thế Âm Bồ Tát để thấy tấm lòng lân mẫn vĩ đại vô biên của ngài.

Theo kinh Bi Hoa ( Karunapundarika ) có ghi lại câu chuyện về tiền thân của ngài :

" Cách đây hằng hà sa số kiếp về trước, ở thế giới San-Ðề-Lan "(Santirana) có vị Chuyển Luân Thánh Vương tên là Vô Tránh Niệm

"(Aranemin) dưới triều vua này, có vị quan đại thần phụ tá tên là "Hải Sa ( Samurarenu ), vị đại thần này có con tên là Hải Tạng "(Samudragarbha ) xuất gia tu hành đắc đạo thành Phật hiệu là Bảo "Tạng ( Ratnagarbha ).

" Bấy giờ vua Vô Tránh Niệm cùng đại thần Hải Sa, các vị vương tử "và thần dân tiến đến đạo tràng cúng dường đức Phật Bảo Tạng. Sau "khi nghe đức Phật giảng dạy, vua cùng vị đại thần đồng thời phát "tâm bồ đề. Ðức vua phát nguyện : " Nguyện thành Phật để độ chúng "sanh, lập một thế giới trang nghiêm để tiếp đón những chúng sanh".

"Quan đại thần lại phát nguyện : " Thành Phật nơi cõi uế trược để "điều phục, cảm hóa chúng sinh".

" Vị hoàng Thái tử tên là Bất Huyền ( Animisa ), bấy giờ lại phát "nguyện như sau : " Sau nầy, khi tôi tu hạnh Bồ tát, có chúng sanh "nào gặp các sự khổ não, sợ hãi...sầu lo bơ vơ không có ai cứu khổ, "không chỗ nương cậy, những kẻ ấy nhớ đến tên tôi, xưng danh hiệu "tôi, được thiên nhĩ tôi nghe đến, thiên nhãn tôi trông thấy, liền đó tôi "sẽ cứu những kẻ ấy ra khỏi các sự khổ não khủng bố".

Vua Vô Tránh Niệm là tiền thân dức Phật A Di Ðà, đại thần Bảo Hải chính là đức Phật Thích Ca, vương tử Bất Huyền chính là bồ tát Quán Âm trong thuở còn tu nhơn.


5. quán thế âm bồ tát và các đại nguyện :


- Trong kinh " Ðại Bi Tâm Ðà Ra Ni " có ghi lại tiền thân tu nhơn của ngài Quán Âm trong thuở đức Phật Thiên Quang Vương Tịnh Trụ, ngài có phát mười đại nguyện như sau :

- Mau chóng thông đạt tất cả pháp
- Mau chóng được mắt trí huệ
- Mau chóng cứu độ tất cả chúng sinh
- Mau chóng được phương tiện khéo léo
- Mau chóng được lên thuyền Bát Nhã
- Mau chóng vượt qua bể khổ
- Mau chóng lên núi Niết Bàn
- Mau chóng hội nhà Vô Vi
- Mau chứng thân Pháp Tánh
- Lại theo một tài liệu khác, trình bày về nhân duyên mà Bồ Tát nói thần chú Ðại Bi, chúng ta được biết thêm :

" Một thuở nọ, đức Phật Thích Ca ở trong đạo tràng nơi cung điện của "đức Quán Thế Âm tại núi Phổ Ðà, đức Như Lai muốn đem các bộ "Tổng trì Ðà ra ni ra nói cùng các đại Bồ Tát thì ngài Quán Âm bí "mật phóng thần thông chói sáng rực rỡ khắp mười phương thế giới, "cõi tam thiên đại thiên hóa thành sắc vàng ngời, long thần cung điện "chuyển động. Ðức Bồ Tát Tổng Trì Vương thấy điềm lành hiếm có, bạch Phật rằng : " Cái thần thông như vậy do ai phóng ra ?" Phật dạy " rằng : " Ở trong pháp hội này có một vị đại Bồ Tát hiệu là Quán Thế " Âm Tự Tại, từ vô lượng kiếp trước lại đây, đã thành tựu cái đức Ðại " Từ Ðại Bi, thường hay tu tập không biết bao nhiêu pháp môn Ðà Ra " Ni, nay vì muốn chúng sanh an vui nên mới bí mật phóng thần "thông oai lực ra như vậy.

" Bấy giờ đức Quán Thế Âm Bồ Tát đứng dậy chắp tay bạch rằng : "Thưa Ðức Thế Tôn, tôi có Ðại Bi Tâm Ðà Ra Ni, nay tôi muốn nói "chú ấy ra để làm cho chúng sinh được an vui, khỏi tất cả bịnh hoạn, "được sống lâu, giàu có, diệt trừ hết tất cả tội nặng, nghiệp ác, khỏi "hết thảy các tai nạn chướng ngại, khiến tất cả các công đức của tất "cả pháp lành càng thêm lớn, hết thảy căn lành đều thành tựu, xa lìa "tất cả điều sợ hãi, thường các việc hy cầu dều được mau đầy đủ. Cúi "xin Thế Tôn rũ lòng từ thương xót mà nghe tôi nói vậy".

" Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát lại bạch rằng : " Thưa đức Thế Tôn, tôi "nhớ hồi không biết bao nhiêu ức kiếp đã qua, có đức Phật hiệu Thiên "Quang Vương Tịnh Trụ Như Lai ra đời. Ngài thương tôi và vì tất cả "chúng sinh mà nói ra môn Ðà Ra Ni Quảng Ðại Viên Mãn Vô Ngại "Ðại Bi Tâm. Ngài mới dưa cánh tay sắc vàng ngời thoa trên đảnh tôi "mà nói rằng : " Này gã thiện nam ! ngươi phải thọ trì chú Ðại Bi "Tâm và làm cho tất cả chúng sinh trong đời hung ác về sau đều được "điều lợi lạc".

" Trong khi ấy tôi ở bậc Sơ Ðịa Bồ Tát, vừa nghe thần chú, vượt "chứng lên bực Bát Ðịa. Bấy giờ tâm tôi vui mừng, liền phát thệ rằng " Tôi nguyện đời sau gánh vác làm việc lợi ích cho chúng sinh thảy "đều an vui, bằng được như vậy thì cho thân tôi sanh ra đầy đủ ngàn "tay ngàn mắt".

" Tôi phát nguyện vừa xong thì nơi thân tôi có đủ ngàn tay ngàn mắt, "khiến đất liền trong mười phương chuyển động, ngàn Phật đều "phóng hào quang rực rỡ chiếu đến thân tôi và soi khắp vô biên thế "giới trong mười phương...

" Từ đó về sau, dầu ở đâu tôi cũng thường trì tụng chú ấy chưa từng "phế bỏ. Nhờ thế nên những lúc sanh ở xứ nào, tôi hằng được gặp "Phật và khi sanh thì hóa sanh nơi hoa sen chớ chẳng sanh trong bào "thai. Bằng ai muốn trì tụng chú ấy, phải phát lòng từ bi đối với "chúng sanh và theo tôi phát nguyện rộng lớn bài kệ sau đây :

Kính lạy đức Ðại Bi Quán Âm
Nguyện lực rộng sâu thân tốt đẹp
Ngàn tay trang nghiêm khắp hộ trì
Ngàn mắt sáng ngời khắp soi xét
Nói thần chú với lời chân thật
Khởi bi tâm trong niệm vô vi
Khiến mong đầy đủ mọi mong cầu
Vĩnh viễn tiêu trừ các tôi nghiệp
Thánh chúng Thiên Long đều ủng hộ
Trăm ngàn Chánh định chóng huân tu
Thân thọ trì là quang minh tràng
Tâm thọ trì là thần thông tạng
Biển nguyện tế trần lao rửa sạch
Phép phương tiện siêu chứng bồ đề
Con nay xưng tán nguyện qui y
Nguyện được tùy tâm đều viên mãn.

Kế đến ngài cũng dạy lập lại mười lời nguyện như trên mà ngài đã lập trước đức Phật Thiên Quang Vương Tịnh Trụ, sau dó ngài dạy bài kệ hồi hướng :

Nếu hướng về núi đao
Núi đao tự gãy nát
Nếu hướng về lửa đốt
Lửa đốt tự tiêu diệt
Nếu hướng về địa ngục
Ðịa ngục tự khô kiệt
Nếu hướng về quỷ thần
Tâm ác tự điều phục
Nếu hướng về súc sanh
Tự được trí huệ lớn.

" Phát nguyện như vậy rồi, một lòng xưng niệm danh hiệu của tôi và "cũng phải chuyên cần niệm danh hiệu A Di Ðà là Bổn sư của tôi, sau "đó tụng thần chú Ðà Ra Ni ấy".
- Tâm Ðại Từ Ðại Bi và hạnh nguyện của đức Quán Thế Âm Bồ Tát lại được nêu rõ qua bài kệ 12 lời nguyện sau đây :

Kính lạy đức Quán Âm Như Lai

Hiệu Viên Thông danh Tự Tại

Nguyện hết lòng khuyến độ khắp cùng.

Kính lạy đức Quán Âm Như Lai

Giữ một niềm không quái ngại

Nguyện thường cư Nam Hải đời đời.

Kính lạy đức Quán Âm Như Lai

Cõi Ta bà u minh giới

Nguyện nghe kêu cứu khỏi tai nàn.

Kính lạy đức Quán Âm Như Lai

Thâu tà ma trừ yêu quái

Nguyện tiêu trừ hết mọi hiểm nguy.

Kính lạy đức Quán Âm Như Lai

Nước cam lồ nhành dương liễu

Nguyện rưới tan phiền não trong lòng.

Kính lạy đức Quán Âm Như Lai

Thương người đời hay tha thứ

Nguyện thường tu bình đẳng vô tư.

Kính lạy đức Quán Âm Như Lai

Suốt ngày đêm không tổn hoại

Nguyện diệt trừ ba nẻo đường mê.

Kính lạy đức Quán Âm Như Lai

Dùng pháp thuyền qua biển khổ

Nguyện tận cùng cứu độ quần sinh.

Kính lạy đức Quán Âm Như Lai

Trông núi Nam siêng lễ bái

Gông cùm giải thoát nguyện.

Kính lạy đức Quán Âm Như Lai

Trước phướng dài sau lọng báu

Nguyện đón đưa về cõi Tây Phương.

Kính lạy đức Quán Âm Như Lai

Cảnh giới Phật Vô Lượng Thọ

A Di Ðà thọ ký nguyện.

Kính lạy đức Quán Âm Như Lai

Thân trang nghiêm trên tất cả

Nguyện tu tròn công quả mười hai.

- Qua các bài kệ phát nguyện trên thì chúng ta đủ thấy rằng Ðại Bi Tâm là không thể nghĩ bàn, không đâu mà không hướng về, không tai nạn nào khổ nào mà không dang tay cứu độ chở che, không pháp nào mà không am hiểu, không phương tiện nào mà không dùng đến, không chúng sinh nào mà không độ, không nghiệp nào mà không tiêu trừ, không mong cầu nào mà không được, tất cả bụi trần rửa sạch, tất cả nguyện đều viên thành, viên mãn.

- Không những đã cứu vớt chúng sinh ra khỏi ách nàn mà còn giác ngộ chúng sinh, làm tăng trưởng phước đức và trí tuệ, giúp cho chúng sinh thành tựu Pháp tánh hay Phật đạo nên đó mới được gọi là Ðại Bi Tâm.

- Như chúng ta biết thì Bổn Sư của Quán Thế Âm Bồ Tát là Phật A Di Ðà do đó mà ngài còn có lời nguyện là đón chúng sinh về cõi Tịnh độ của đức A Di Ðà, không những thế rồi mà còn nguyện thọ ký cho chúng sinh thành Phật nữa .

- Qua bài kệ 12 đại nguyện trên của Bồ Tát Quán Âm chúng ta được biết ngoài danh hiệu Quán Tự Tại ngài còn có danh hiệu là Viên Thông. Như thế nào gọi là Viên thông ? Có nghĩa là viên dung và thông nhập Như lai tạng, Chơn tánh và diệu dụng của các pháp. Dù tu bất cứ một pháp nào mà chứng được chơn như tất cả Pháp thì đều gọi đó là Pháp Viên thông. Cũng như đã bàn ở trên về đặc tính của Phổ môn thì Pháp " Quán Thế Âm " chính là Pháp Viên Thông vậy.

- Cũng qua bài kệ trên chúng ta sẽ đặt câu hỏi vì sao bài kệ được mở đầu bằng câu" Kính lạy Ðức Quán Âm Như Lai " mà không phải là Quán Âm Bồ Tát ? Phải chăng nên hiểu rằng Quán Thế Âm thật ra ngài đã thành Phật rồi song vì lòng từ bi muốn cứu độ chúng sinh nên ngài vẫn được xem như là một vị Bồ Tát luôn có mặt và gần gủi bên chúng sinh ? Bồ tát Quán Thế Âm hẳn phải là một vị đã chứng đắc mới có đủ diệu dụng để ứng thân hóa độ chúng sinh như thế do đó mà bài kệ lại bắt đầu bằng câu " Kính lạy đức Quán Âm Như Lai " vậy.

6. Chú đại bi và bồ tát quán thế âm :

- Do có Tâm Ðại Bi mà Bồ Tát Quán Âm đã nói thần chú " Vô Ngại Ðại Bi " còn có tên là " Quảng Ðại Viên Mãn ", " Tốc Siêu Thượng địa Ðà Ra Ni " hay nói gọn là Chú Ðại Bi. Chỉ nguyên một bài chú này đã có công đức thù thắng diệt trừ nghiệp chướng, tiêu tai giải ách, tăng trưởng trí tuệ, thành tựu, viên mãn Phật đạo.

Tu tập Tâm Ðại Bi cũng là tu trì thần chú này, tánh Từ đức Bi sẽ rộng mở, như nước cam lộ dập tắt nhà lửa của chúng sinh, làm cho mát mẻ, tan biến mọi khổ não của muôn loài, dẫn dắt chúng sinh về Cực Lạc.

Nên nói Tâm Ðại Bi thì cũng nói Chú Ðại Bi bởi vì trong Chú đã mật ẩn cái Tâm từ bi vô lượng sáng chói và thể hiện muôn vàn diệu dụng. Hành giả tu tập Tâm Ðại Bi thì không thể quên trì Chú Ðại Bi là vậy. Tất cả các thiện pháp như bố thí, giúp người giúp vật nếu được dựa trên Ðại Bi Tâm thì công đức mới thật là vô lượng, không thể nghĩ bàn.

Và như chúng ta đã được biết thì Thần chú Ðại bi này là do từ nơi miệng của dức Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Như Lai nói ra cho Bồ Tát Quán Thế Âm nghe và dặn dò ngài phải trì chú này để làm cho các chúng sinh hung ác đời sau đều được lợi lạc, từ đó Bồ Tát đã trì chú này và trao truyền lại cho chúng ta cho đến ngày hôm nay.Thật là một nhơn duyên thù thắng cho chúng ta. Sau đây là Thần chú với bản Phạn ngữ :

MAHA KARUNA DHARANI

NAMO RATNATRAYAYA NAMO ARYA AVALOKITESHAVARAYA BODHISATTVAYA MAHASATTVAYA MAHAKARUNIKAYA OM SAVALAVATI SUDDHA NA TASYA NAMASKRITVA NIMAM ARYA AVALOKITESHAVARA LANTABHA NAMO NILAKANTHA SRIMAHAPATASHAMI SARVADVATASHUBHAM ASHIYUM SARVASATTVA NAMO PASATTVA NAMO BHAGAMABHATE TU TADHYATHA OM AVALOKA LOKATE KALATI ISHIRI MAHABODHISATTVA SABHO SABHO MARA MARA MASHI MASHI RIDHAYU GURU GURU GHAMAIN DHURU DHURU BHASHIYATI MAHABASHIYATI DHARA DHARA DHIRINI SHVARAYA JALA JALA MAHABHAMARA MUDHILI EHYEHI SHINA SHINA ALASHINBALASHARI BHASHA BHASNIN BHARASHAYA HULU HULU PRAHULU HULU SHRI SARA SARA SIRI SIRI SURU SURU BUDDHAYA BUDDHAYA BODHAYA BODHAYA MAITRIYE NILAKANSTA TRISA RANABHAYA MANE SVAHA SITAYA SVAHA MAHA SITAYA SVAHA SITAYAYE SHVARAYA SVAHA NILAKANTHI SVAHA PRANILA SVAHA SHRISIMHAMUKHAYA SVAHA SARVAMAHASASTAYA SVAHA CHAKRA ASTAYA SVAHA PADMAKESHAYA SVAHA NILAKANTEPANTALAYA SVAHA MOPHOLISHANKARAYA SVAHA NAMO RATNATRAYAYA NAMO ARYA AVALOKITESHVARAYA SVAHA OM SIDDHYANTU MANTRAPATAYA SVAHA .

- Ngoài thần chú này, chúng ta còn được biết câu thần chú ngắn gọn hơn gồm sáu chữ : " OM MANI PADME HUNG " của Phật giáo Tây Tạng ( tiếng Việt đọc là " ÚM MA NI BÁT DI HỒNG " ). Thần chú này cũng có công dụng phá trừ phiền não nghiệp chướng và khai mở tâm từ bi, dọn đường cho sự tu tập của tất cả bồ tát.

- Qua bài này chúng ta chỉ dừng lại nơi sự tìm hiểu Tâm Ðại Bi được thể hiện qua hình ảnh của Quán Thế Âm Bồ Tát và các Ðại nguyện của ngài, trong một dịp khác chúng ta sẽ bàn sâu hơn về biểu tượng Quán Thế Âm trong tinh thần Phật giáo nghĩa là sẽ tìm hiểu biểu tượng này dù đã được thần thánh hóa trong dân gian, được tôn thờ cung kính lễ lạy như thế có phù hợp với tinh thần tự lực tự độ tự chứng đắc của đức Phật Thích Ca chăng, chúng ta sẽ bàn đến sự tu tập theo hạnh từ bi của Quán Thế Âm, cũng như tìm hiểu sâu xa hơn nữa ý nghĩa của phẩm Phổ Môn.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 2 người đã gửi lời cảm ơn đến HoangMai vì bài post hữu ích này:
ThanhLuong (24-05-2008), VoDanh (21-05-2008)
Gởi Ðề Tài Mới Trả lời


Những đề tài tương tự
Ðề tài Người Gởi Chuyên mục Trả lời Bài mới gởi
ThÔng ĐiỆp TỪ MỘt BỘ LẠc KỲ BÍ GỞi Cho ThẾ GiỚi VĂn Minh HiỆn Nay dung9610 Tâm linh 15 02-09-2014 2:44 pm
Giác Ngộ thien thu 2 Tâm linh 92 10-09-2009 11:32 am
Chia sẻ: Quyền lực - Ích kỷ ThuanThien Những quan tâm của bạn về ngành Nhân Điện 7 14-02-2008 9:58 am
Kỷ niệm Sinh nhật Thầy 30-1 lxthuy Thư giản - Linh tinh 1 05-02-2008 7:15 am
Cách tìm kiếm các đề tài admin Thông báo - Tin tức 0 24-12-2007 3:23 pm

Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Công cụ
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến



UE-GLOBAL.COM
Powered by vBulletin & vBadvanced CMPS
Copyright © 2000 - 2018, Jelsoft Enterprises Ltd.
vBulletin Skin developed by: vBStyles