UE Global
Translate this webpage (Google Translation):
    »
Choose your language:      

Chọn diễn đàn
Main Forums
English Forum
www.ue-global.com
Forum Français
French Forum
fr.ue-global.com
Diễn đàn Tiếng Việt
Vietnamese Forum
vn.ue-global.com
Русскоязычные форумы
Russian Forum
ru.ue-global.com
Foro en Español
Spanish Forum
es.ue-global.com

Chào mừng bạn đến với UE Global.
Go Back   UE Global > Diễn đàn Nhân Điện Tiếng Việt > Ứng dụng tâm linh vào đời sống

Gởi Ðề Tài Mới Trả lời
 
Công cụ Xếp Bài
Những tài liệu đáng suy ngẫm!
Old 30-09-2008, 11:17 am  
admin
Administrator
 
admin's Avatar
 

Lightbulb Những tài liệu đáng suy ngẫm!
Tôi có một gợi ý này, bạn nào đọc được một tài liệu hay một bài báo nào mà có những chi tiết đáng để chúng ta suy ngẫm để hiểu rõ thêm về bản chất của sự sống, con người, tâm linh... thì chúng ta post lên để mọi người cùng học hỏi.

Để mở đầu, tôi xin post một bài báo về chuyện: "Những người sống không cần... não" để chúng ta suy ngẫm thử: Liệu rằng, vật chất có quyết định hoàn toàn trong sự sống của chúng ta không?

Trích:
Những người sống không cần... não

Lịch sử y học từng xác nhận hàng trăm người sống với cái đầu rỗng tuếch theo đúng nghĩa đen. Họ không có não bộ hoặc não đã bị hủy hoại hoàn toàn, nhưng vẫn sống và làm việc như người thường.

Tạp chí Lancet của Pháp mới đây đăng tải một trường hợp kỳ lạ: Bác sĩ Lionel Feullet ở Bệnh viện Timone (Marseille) vô cùng kinh ngạc khi phát hiện một người đàn ông 44 tuổi đang sống bình thường như bao người khác với một bộ não nhỏ đến độ như là không có. Người đàn ông đã có gia đình và hai con này nhập viện vì cảm thấy chân trái bị yếu. Sau khi chụp CT và MRI, bác sĩ thấy não thất của ông nở rộng, trong khi não, tức chất xám và chất trắng, thì lại chẳng thấy đâu.

Bệnh nhân có tiền sử tràn dịch não từ khi được 6 tháng tuổi. Như vậy, có thể trong một thời gian rất dài, người này đã sống với cái đầu rỗng tuếch. Bác sĩ Feuillet nói: "Sự thiếu hụt bộ não đã không hề cản trở sự phát triển của ông ta!".

Điều khiến người ta chú ý là những trường hợp kỳ lạ tương tự như trên không phải quá hiếm. Năm 1935, trong quá trình trị liệu cho một sinh viên khoa toán Đại học Sheffield hay bị ốm vặt, giáo sư Lorber phát hiện thấy cậu hoàn toàn không có não khi chụp CAT - scan. Lẽ ra hai bán cầu não phải lấp đầy hộp sọ với độ sâu 4,5 cm nhưng sinh viên này chỉ có chưa đầy 1 mm mô não phủ trên đỉnh cột sống. Không hiểu bằng cách nào mà cậu vẫn sống bình thường, chỉ số IQ là 126, học lực còn rất xuất sắc, từng đạt học vị danh dự ngành toán học. Năm 1970, người thanh niên này chết ở tuổi 35. Khi mổ tử thi, một lần nữa các bác sĩ đã chứng thực việc cậu không hề có não.

Giáo sư Lorber cho biết, ông đã gặp không ít trường hợp người không có bán cầu não mà vẫn thông thái như thường. Ở một số người, tuy não bộ thuộc dạng "không tìm thấy" nhưng chỉ số IQ của họ vẫn đạt 120.

Một số người khác vẫn sống ngay cả khi não bị tổn thương nghiêm trọng, điều tưởng như "chỉ có trong phim". Theo các tài liệu còn lưu trữ, vào năm 1636, vua Ludwig của Bavaria ra lệnh xử trảm Dietze von Schaumburg cùng 4 đồng phạm vì âm mưu nổi loạn. Theo phong cách hiệp sĩ, vua cho Dietze một ước nguyện cuối cùng. Thật ngạc nhiên, Dietze yêu cầu toàn bộ tử tù xếp thành hàng, mỗi người cách nhau 8 bước và xin được chết đầu tiên. Dietze khẳng định dù không còn đầu, ông vẫn có thể chạy qua mặt những tử tù kia, và nếu làm được như thế thì xin nhà vua hãy tha mạng cho các chiến hữu còn lại.

Nhà vua đồng ý. Dietze quỳ xuống và đưa đầu lên thớt. Sau khi đầu rơi, Dietze vùng đứng dậy và chạy trước sự sững sờ, khiếp sợ của các tử tù. Dietze chỉ gục ngã khi chạy qua người cuối cùng trong hàng. Nhà vua thực hiện lời hứa, tha chết cho những người còn lại.

Tạp chí y học New York (Mỹ) xuất bản năm 1888 cũng đã mô tả câu chuyện kỳ lạ xảy ra với một thủy thủ lái tàu trên sông. Người này trèo lên cột buồm để buộc lại dây chằng, không để ý rằng tàu sắp lướt qua gầm cầu. Thanh gầm cầu sắc như dao đã xén đứt 5-6 cm phần đầu phía trên của người thủy thủ. Anh ta được đưa vào bệnh viện cấp cứu.

Điều kỳ diệu là, trong khi các bác sĩ đã hết hy vọng thì bỗng nhiên anh ta mở mắt, hỏi chuyện gì đã xảy ra. Sau đó, anh rời bàn mổ và đòi quay về tàu để làm việc. Quá kinh ngạc, các bác sĩ đã quyết định ghép lại phần đầu bị cắt đứt cho anh ta mặc cho bộ não đã bị tổn thương nghiêm trọng.

Sau 2 tháng điều trị, chàng thủy thủ cảm thấy bình phục hoàn toàn và trở lại tàu làm việc. Dường như cái đầu đã mất gần hết não không hề ảnh hưởng đến công việc của anh. Thỉnh thoảng, anh chỉ cảm thấy choáng váng nhẹ, còn bình thường thì hoàn toàn khỏe mạnh. Mãi đến 26 năm sau ngày bị tai nạn, anh mới bị liệt tay và chân trái.

Vì sao một số người không có não hay bất ngờ mất não vẫn sống như người bình thường trong một thời gian dài? Phải chăng cơ thể họ đã được điều khiển bằng một hệ thống khác? Có không ít cách lý giải về những trường hợp kỳ lạ này.

Một giả thuyết cho rằng trong não bộ bình thường có một lượng chức năng "dự phòng" lớn tới mức, chỉ cần một vài tế bào còn sót lại cũng có thể giúp con người thực hiện toàn bộ chức năng thay cho cả hai bán cầu não bị thiếu hụt. Một giả thuyết khác tương tự cho rằng, con người chỉ sử dụng một phần rất nhỏ não bộ - có lẽ vào khoảng 10%.

Theo một số nhà khoa học, cơ thể con người có hai hệ thống điều khiển. Một hệ thống gồm bộ não, hệ thần kinh (sử dụng tế bào thần kinh để truyền dữ liệu). Hệ thống kia dựa vào tuyến nội tiết, sử dụng hoóc môn hay chất sinh học đặc biệt để truyền thông tin khắp cơ thể.

Những người theo chủ nghĩa duy tâm thì tin rằng bên cạnh ý thức, con người còn có linh hồn. Đó chính là một kiểu "kho lưu trữ" chứa chương trình đảm trách các chức năng của cơ thể, từ hoạt động hệ thần kinh tới những quá trình khác nhau trong tế bào. Phân tử AND nắm giữ thông tin tạo ra chương trình này. Ý thức chỉ là kết quả hoạt động của chương trình đó, hay nói cách khác, là sự làm việc phức tạp của linh hồn. Rất nhiều biểu hiện liên quan đến khái niệm linh hồn đã được phản ánh và hiện tượng người không có não hay mất não mà vẫn sống là một thí dụ.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống, Pravda)
__________________
Success is getting what you want,
Happiness is wanting what you get.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 10 người đã gửi lời cảm ơn đến admin vì bài post hữu ích này:
damthanh (10-03-2009), dung9610 (30-09-2008), Happy (03-05-2009), lephuochoa (10-01-2012), liem0962 (21-06-2010), ltduy001 (04-10-2008), MT7MEL (08-07-2009), niemtin2010 (01-04-2011), tamhangmel (23-12-2008), tuanngan (11-10-2008)
Old 30-09-2008, 9:54 pm  
ngo van bac
Senior Member
 
ngo van bac's Avatar
 

Default
Đọc bài: "những người sống không cần não" cả bạn Admin thật là một thông tìn mới lạ đầy ngạc nhiên và cho tôi thấy thêm sự tinh vi của Đấng T.Đ toàn năng.Cám ơn bạn đã có công sưu tầm:"
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là người đã gửi lời cảm ơn đến ngo van bac vì bài post hữu ích này:
macvophong (03-02-2010)
Bản chất của Tâm
Old 03-10-2008, 10:55 am  
dung9610
Senior Member
 

Default Bản chất của Tâm
Trích:
Vì bị nhốt kín trong cái lồng hạn hẹp tối tăm của bản ngã mà ta cho là cả vũ trụ, rất ít người trong chúng ta khởi sự ngay cả tưởng đến một chiều không gian khác của thực tại. Patrul Rinpoche kể cho chúng ta câu chuyện về một con ếch già suốt đời sống trong một cái giếng ẩm. Một ngày kia có con ếch từ ngoài biển vào thăm nó. Nó hỏi:
- Anh từ đâu đến?
- Từ biển.
- Biển của anh to bao nhiêu?
- To khổng lồ.
- Anh muốn nói là bằng cỡ chừng phần tư cái giếng của tôi đây chứ gì?
- Không, lớn hơn cơ.
- Lớn hơn à? Vậy thì bằng nửa cái giếng của tôi không?
- Không, lớn nữa kia.
- Thế... Chẳng nhẽ lại bằng cả cái giếng của tôi à?
- Không có thể so sánh được.
- Chuyện vô lý! Tôi phải đi xem cho tận con mắt.
-Chúng cùng đi. Khi con ếch ở giếng trông thấy đại dương, nó bị một cú sốc kinh hoàng tới nỗi nó nổ tung ra thành từng mảnh.

Phần lớn những hoài niệm tuổi thơ tôi về Tây Tạng đã phai tàn, nhưng có hai thời điểm mà tôi không bao giờ quên. Đó là khi thầy tôi Jamyang Khientse khải thị cho tôi đi vào bản chất cốt tủy, uyên nguyên và sâu xa nhất của tâm tôi. Lúc đầu tôi cảm thấy dè dặt không muốn tiết lộ những kinh nghiệm riêng tư này, vì ở Tây Tạng không bao giờ người ta làm chuyện đó, nhưng các học trò, bạn bè tôi tin rằng nếu tôi nói ra thì có thể giúp đỡ nhiều người, và họ yêu cầu tôi, năn nỉ tôi viết về những kinh nghiệm ấy.

Lần đầu tiên nó xảy đến khi tôi khoảng sáu bảy tuổi, tại trong cái phòng đặc biệt mà thầy tôi ở, trước mộ bức tranh lớn của tiền nhân thầy là Jamyang Khientse Wangpo. Đấy là một hình dáng oai vệ nghiêm trang, càng oai vệ trang nghiêm hơn khi ánh đèn bơ đặt trước bức tranh cứ chập chờn soi sáng gương mặt trên bức tranh ấy. Tôi chưa biết có chuyện gì xảy ra thì thầy tôi đã làm một sự bất thường chưa từng có. Ngài thình lình ôm tôi và nhấc bổng lên. Đoạn ngài hôn tôi một cái vào một bên má. Trong một lúc lâu, tâm tôi hoàn toàn biến mất, tôi được bao phủ bởi một niềm yêu thương, tin tưởng, một năng lực phi thường.

Biến cố kế tiếp thì trang trọng hơn và xảy ra ở Lhodrak Kharchu trong một hang động mà Padmasambhava bậc thánh vĩ đại và là cha đẻ của Phật giáo Tây Tạng, đã nhập thất thiền định. Chúng tôi đã dừng chân tại đấy trên đường hành hương đến miền Nam. Lúc đó tôi chừng chín tuổi. Thầy tôi gọi tôi đến và bảo tôi ngồi trước mặt ôn. Chỉ có hai thầy trò chúng tôi. Thầy tôi bảo:
- Bây giờ ta sẽ khai thị cho con về bản lai diện mục của tâm.

Cầm cái chuông và trống tay nhỏ lên, thầy triệu thỉnh tất cả những bậc thầy trong hệ truyền thừa, từ Phật nguyên thủy trở xuống đến bậc thầy của chính thầy. Rồi thầy bắt đầu khai thị. Bỗng chốc thầy ném vào mặt tôi một câu hỏi không thể trả lời:
- Tâm là gì?
Thầy nhìn xoáy sâu vào mắt tôi. Tôi hoàn toàn kinh ngạc. Tâm tôi tan ra. Không còn ngôn từ, tên gọi, ý tưởng nào ở lại – Không có tâm nào hết, quả thế.

Cái gì xảy ra trong giây phút đầy kinh ngạc ấy? Những ý niệm quá khứ đã chết, tương lai chưa đến; dòng tư tưởng của tôi bị cắt ngang đột ngột. Trong cú sốc đó một khoảng trống mở ra, trong khoảng trống ấy chỉ có một giác tính tuần túy trực tiếp về hiện tại, một cái gì hoàn toàn vượt ngoài mọi bám víu chấp thủ. Giác tính ấy đơn giản, sơ nguyên và căn để. Tuy vậy sự giản đơn thuần túy đó cũng tỏa sáng đầy sự ấm áp của một niềm bi mẫn bao la.

Biết bao nhiêu điều tôi có thể nói về giây phút ấy! Thầy tôi rõ ràng đang đặt cho tôi một câu hỏi, nhưng tôi biết thầy không chờ đợi một câu trả lời. Tôi chưa săn tìm giải đáp thì đã thấy rằng không có giải đáp nào có thể tìm kiếm. Tôi ngồi thộn ra trong kinh ngạc, nhưng trong khi ấy một niềm tin vững chắc sâu xa sáng chói tôi chưa từng biết đến, đang dâng tràn trong tôi.

Thầy tôi đã hỏi: “Tâm là gì?” và vào lúc ấy tôi tưởng chừng ai cũng biết rằng, không có chuyện có hiện hữu một cái tâm nào cả, làm sao tôi có thể tìm ra. Vậy, dường như đi tìm tâm thực là phi lý.
Sự khai thị của thầy tôi đã gieo một hạt giống sâu xa trong tôi. Về sau tôi mới biết đấy là phương pháp khai thị được dùng trong truyền thống chúng tôi. Tuy nhiên, vì lúc đó tôi không biết, mà những gì xảy ra có vẻ hoàn toàn bất ngờ, và do đó càng kinh hoàng mãnh liệt.

Trong truyền thống chúng tôi có “ba chân xác” cần hội đủ để khai thị bản tâm:
· Sự làm phép của một bậc thầy chân xác,
· Lòng sùng tín của một đệ tử chân xác, và
· Tính chính thống trong phương pháp khai thị.

Tổng thống Mỹ không thể khai thị bản tâm cho bạn, mà cha hay mẹ bạn cũng không thể làm việc đó. Một người có quyền thế đến bao nhiêu cũng không ăn thua gì, hoặc họ có yêu mến bạn bao nhiêu cũng không ăn thua gì. Việc khai thị chỉ có thể được thực hiện bởi một người đã hoàn toàn thực chứng, và có sự ban phép và kinh nghiệm thuộc trong hệ phái truyền thừa.

Và bạn, người học trò, phải tìm ra và luôn hàm dưỡng cái tri kiến khoáng đạt thênh thang ấy, niềm hăng say, nhiệt tình và sự tôn trọng nó sẽ làm biến đổi cả bầu không khí trong tâm bạn, làm bạn sẵn sàng đón nhận sự khai thị. Đây là điều mà ta gọi là lòng sùng tín. Nếu không có lòng sùng tín, thì thầy có khai thị trò cũng không nhận ra. Sự khai thị bản tâm chỉ có thể thực hiện khi cả thầy lẫn trò cùng thể nhập cái kinh nghiệm ấy; chỉ trong sự giao cảm giữa tâm và trí ấy, người môn sinh mới trực ngộ được.

Phương pháp khai thị cũng vô cùng quan trọng. Chính phương pháp ấy đã được thử nghiệm qua hàng ngàn năm và đã giúp cho những bậc thầy trong quá khứ đạt đến thực chứng. Khi thầy tôi khai thị cho tôi một cách tự nhiên như thế, vào lúc tuổi còn bé như thế, là thầy đã làm một việc hoàn toàn bất thường. Thông thường thì việc khai thị xảy ra muộn hơn nhiều, khi đệ tử đã trải qua những thực tập thiền định và thanh luyện tâm ý. Chính những việc làm này khiến cho tâm trí người đệ tử thuần thục và có thể mở ra để đón nhận tri kiến trực tiếp về chân lý. Vào cái thời điểm đầy tiềm năng của sự khai thị, bậc thầy có thể truyền cái tâm giác ngộ của mình vào trong tâm của người đệ tử bấy giờ đã chân xác sẵn sàng đón nhận. Bậc thầy làm cái việc khai thị cho trò thấy Phật thật là gì, nói cách khác là đánh thức trò thấy sự hiện diện sống động của tuệ giác nội tâm. Trong kinh nghiệm ấy, thì Phật, bản tâm của người đệ tử, và tâm giác ngộ của bậc thầy tan hòa thành một. Khi ấy người học trò nhận ra, trong một niềm tri ân vô bờ bến, rằng không còn nghi ngờ gì nữa, giữa thầy và trò, giữa tâm giác ngộ của bậc thầy và bản tâm người đệ tử, không có và chưa bao giờ có sự ngăn cách nào cả. Dudjom Rinpoche trong bài ca chứng đạo nổi tiếng của ngài đã viết:
- Tuệ giác về cái bây giờ chính là Phật thật,

Trong tâm trạng cởi mở, hài lòng, tôi gặp Thầy trong tim tôi. Khi ta nhận chân được rằng cái tâm bản nhiên bất tận đó chính là Thầy.
Thì không cần bám víu, chấp thủ, cầu khẩn khóc than.
Chỉ cần an trú thoải mái trong trạng thái tự nhiên như nhiên ấy,
Là ta có được phúc lạc của giải thoát.

Khi bạn đã nhận chân toàn triệt rằng tự tính của tâm bạn cũng giống như của thầy, thì từ đấy trở đi bạn và thầy không bao giờ ngăn cách vì thầy là một với tâm bản nhiên của bạn, luôn luôn hiện tiền. Có lẽ bạn còn nhớ Lama Tseten (Chương một), khi sắp chết và được hỏi có muốn gọi bậc thầy đến bên giường không, ông đã trả lời:
- Với bậc thầy, không có cái gì gọi là ngăn cách.

Khi nào bạn thấy được như Lama Tseten rằng thầy và mình không từng xa nhau, thì một niềm tri ân vô bờ bến, một cảm thức úy phục và kính lễ nảy sinh trong bạn. Dudjom Rinpoche gọi đó là “Sự kính lễ của Tri kiến.” Đó là một niềm sùng kính luôn phát tự nhiên do ngộ được cái Tri kiến về bản tâm.

Đối với tôi, còn có nhiều lần nhập môn khác nữa: Nhập môn về giáo lý và quán đảnh, và về sau tôi được sự khai thị của nhiều thầy khác. Sau khi Jamyang Khientse viên tịch, Dudjom Rinpoche chăm sóc tôi, bao bọc tôi trong tình thương mến của ngài, và tôi làm người thông dịch cho ngài trong nhiều năm. Việc này mở ra một giai đoạn mới trong đời tôi.

Dudjom Rinpoche là một trong những bậc thầy mật tông nổi tiếng của Tây Tạng, một học giả, tác giả nổi tiếng. Thầy Jamyang Khientse tôi thường ca tụng Dudjom, nói ngài là một đại diện sống động của Padmasambhava trong thời đại này. Bởi thế tôi rất kính trọng ngài, mặc dù chưa từng tiếp kiến cũng chưa được nghe ngài giảng dạy. Một hôm, sau khi thầy tôi đã chết, vào lúc tôi chừng hai mươi mấy tuổi, tôi đến viếng Dudjom Rinpoche tại nhà riêng của ngài ở Kalimpong, trên một ngọn đồi thuộc dãy núi tuyết.

Khi tới nơi, tôi thấy một trong những đệ tử Mỹ đầu tiên của ngài đang thọ giáo. Bà ta đang khổ sở vì không có người nào biết đủ Anh ngữ để dịch những lời dạy về tự tánh của tâm. Khi thấy tôi đi vào, Dudjom Rinpoche nói:
- Ồ! Có con đây rồi. Tốt. Con có thể thông dịch giùm bà ấy không?

Thế là tôi ngồi xuống và khởi sự dịch. Ngày trong một thời gian giảng dạy chừng một tiếng đồng hồ, ngài đã cho một bài pháp tuyệt diệu, bao trùm tất cả mọi sự. Tôi xúc cảm và phấn chấn đến độ mắt tôi rớm lệ. Tôi nhận ra đây là điều mà Jamyang Khientse muốn nói.

Ngay sau đó, tôi thỉnh cầu ngài chỉ giáo cho tôi. Tôi thường đến tư thất ngài mỗi chiều và ở đó vài giờ. Ngài có vóc người nhỏ thó, gương mặt đẹp hiền từ, đôi bàn tay tuyệt vời, và một dáng dấp mảnh mai gần như phụ nữ. Ngài để tóc dài bới cao lên như một hành giả Du già; Mắt ngài luôn ánh lên một niềm thích thú huyền bí. Giọng nói ngài dường như chính là tiếng nói của tâm đại bi, êm và hơi khàn. Ngài thường ngồi trên một ghế thấp trải thảm Tây Tạng, tôi ngồi dưới chân ngài. Tôi luôn nhớ lại hình ảnh ngài ngồi đó, bóng trời chiều chiếu qua khung cửa sổ sau lưng ngài.

Rồi một hôm trong khi tôi đang thụ giáo và thực tập với ngài, tôi có một kinh nghiệm kỳ lạ nhất. Mọi sự mà tôi đã từng nghe trong giáo lý mật tông dường như đang xảy đến với tôi – tất cả những hiện tượng vật chất quanh chúng tôi đang tan biến – tôi sung sướng ấp úng:
- Thầy, thầy... Nó đang xảy ra!
Tôi không bao giờ quên được vẻ bi mẫn trên gương mặt thầy, khi thầy cúi xuống vỗ về:
- Được, được. Đừng có náo nức quá. Chung quy, điều ấy không tốt cũng không xấu...

Sự kinh ngạc và sung sướng bắt đầu cuốn hút tôi đi, nhưng Dudjom Rinpoche biết rằng mặc dù những thực chứng có thể là những cái mốc hữu ích trên đường tu thiền định, chúng cũng có thể thành những cái bẫy nếu có sự bám víu xen vào. Ta cần phải vượt qua kinh nghiệm ấy để đi vào một nền tảng sâu xa vững chắc hơn: Những lời minh triết của thầy để đưa tôi đến cái nền tảng ấy.

Dudjom Rinpoche còn giúp tôi thực chứng nhiều lần bản chất của tâm qua những lời dạy của thầy, chính những danh từ cũng đã nhen nhúm lên những tia sáng về kinh nghiệm thực. Trong nhiều năm, mỗi ngày ngài thường chỉ giáo cho tôi về bản tính tự nhiên của tâm mà người ta gọi là giáo lý “trực chỉ” (pointing-out instructions). Mặc dù tôi đã thụ huấn tất cả những gì thiết yếu từ nơi thầy Jamyang tôi, nhưng đó chỉ như mới gieo hạt. Chính Dudjom là người đã tưới tẩm chăm bón làm cho nó đơm hoa. Và khi tôi khởi sự ra giảng dạy, thì chính tấm gương thầy Dudjom đã gợi cảm hứng cho tôi nhiều nhất.

TÂM VÀ TỰ TÍNH CỦA TÂM
Cái thấy thực “cách mạng” trong Phật giáo là, sự sống và chết ở ngay trong tâm, không đâu khác. Tâm được xem như nền tảng phổ quát của kinh nghiệm - kẻ sáng tạo ra hạnh phúc và đau khổ, kẻ sáng tạo ra cái ta gọi là sự sống và cái ta gọi là sự chết.

Có nhiều phương diện của tâm, nhưng có hai phương diện nổi bật hơn cả. Đầu tiên là cái tâm thông thường mà người Tây Tạng gọi là sem. Một bậc thầy đã định nghĩa:
- Đó là cái tâm có khả năng phân biệt, có ý thức về nhị nguyên - hoặc lấy hoặc bỏ một đối tượng ngoài – đó là tâm. Đó là cái có thể giao thiệp với một cái “khác”, bất cứ cái gì khác, được xem là sở tri (bị biết) khác với cái năng tri (người biết). Sem là cái tâm suy nghĩ, tâm nhị nguyên, phân biệt, chỉ có thể vận hành tương quan với một điểm quy chiếu ở ngoài, bị nhận lầm và chỉ là một cái bóng được chiếu ra.

Vậy Sem là cái tâm suy nghĩ, đặt kế hoạch, ham muốn, vận động, cái tâm bừng lên trong cơn giận dữ, tạo ra và say mê trong những đợt sóng tư duy và cảm xúc tiêu cực, cái tâm cứ luôn luôn phải tiếp tục quả quyết, đánh giá, và xác định lại hiện hữu của nó bằng cách cắt xén, đặt tên, củng cố kinh nghiệm. Tâm thông thường là miếng mồi thụ động di chuyển không ngừng theo những ảnh hưởng bên ngoài, theo những khuynh hướng tập quán và điều kiện: Những bậc thầy ví nó với một ngọn đèn cầy đặt trước gió, phải bị lay động bởi tất cả những ngọn gió của hoàn cảnh.

Nhìn từ một góc cạnh, thì sem là lay động, không dừng trụ, chấp thủ, luôn luôn xía vô việc của người khác; năng lực nó bị tiêu hao do chiếu ra ngoài quá nhiều. Đôi khi tôi vì nó như hột đậu nhảy của xứ Mexico hay một con khỉ không ngừng nhảy chuyền cành. Tuy vậy nhìn một cách khác, thì tâm thông thường có một tính cố định cùn nhụt giả tạm, một tính trơ lì tự về và tự mãn, một sự bình thản lạnh lùng của thói quen ăn sâu. Sem láu cá như một chính trị gia quỷ quyệt, hoài nghi, nhiều muu mô lừa dối, và “tinh vi với những trò lừa gạt,” Jamyang Khientse đã viết. Chính trong kinh nghiệm của sem, cái tâm hỗn mang vô trật tự này mà chúng ta chịu những đổi thay và chết chóc.

Nhưng còn có bản tính tự nhiên của tâm, tính chất sâu xa của nó, cái tuyệt đối không dính tới đổi thay và chết chóc. Hiện giờ nó đang ẩn trong tâm sem thông thường của ta, bị bao phủ và che mờ bởi những huyên náo rộn ràng trong tâm, những ý nghĩ và cảm xúc. Cũng như mây có thể bị luồng gió mạnh thổi tan, để lộ mặt trời sáng chói và bầu trời rộng mở, cũng thế, trong vài trường hợp đặc biệt, một cảm hứng nào đó có thể vén mở cho ta hé thấy bản tính tự nhiên ấy của tâm. Những sự hé thấy này có nhiều mức độ cạn sâu, song đều đem lại cho ta một ít tuệ giác, ý nghĩa và giải thoát tự do. Bởi vì bản tính tự nhiên này của tâm chính là gốc rễ của trí tuệ. Tạng ngữ gọi nó là Rigpa, một sự tỉnh giác trong sáng nguyên ủy có tính chất thông minh, biết nhận thức, sáng chói và luôn luôn tỉnh thức. Có thể nói nó là cái biết của chính cái biết.

Đừng tưởng lầm bản chất tự nhiên của tâm chỉ có trong tâm ta mà thôi. Kì thực nó là bản chất của mọi sự vật. Điều cần nói là, trực nhận bản tính tự nhiên của tâm cũng chính là trực nhận bản tính tự nhiên của mọi sự vật.

Những bậc thánh và hành giả huyền học trong lịch sử thường nói về sự chứng ngộ của họ bằng những tên khác nhau, khoác cho nó nhiều bộ mặt khác nhau, lối giải thích khác nhau, nhưng tất cả đều kinh nghiệm một điều căn bản là bản tính thuần túy của tâm. Người Ki tô và Do thái giáo gọi nó là Thượng đế; Ấn giáo gọi là Đại ngã, Shiva, Brahman và Vishnu; những nhà thần bí Sufi gọi nó là “Tính chất ẩn nấp;” còn Phật tử thì gọi là “Phật tính.” Trọng tâm của mọi tôn giáo là niềm xác tín rằng có một chân lý căn để, và đời sống là một cơ hội thiêng liêng để tiến hóa và thực chứng chân lý ấy.

Khi ta nói Phật, ta tự nhiên nghĩ đến thái tử xứ Ấn Gotama Siddhartha đạt giác ngộ vào thế kỷ thứ sáu trước tây lịch, người đã giảng dạy con đường tâm linh mà hàng triệu người khắp Á châu noi theo, ngày nay gọi là Phật giáo. Tuy nhiên danh từ Buddha có một ý nghĩa sâu xa hơn nhiều. Nó có nghĩa là một con người, bất cứ người nào, đã hoàn toàn thức dậy từ giấc ngủ vô minh và mở mang tiềm năng trí tuệ bao la của mình. Một đức Phật là một người đã chấm dứt đau khổ và bất mãn, đã tìm ra một niềm bình an, hạnh phúc dài lâu bất tận.

Nhưng đối với nhiều người trong thời đại hoài nghi này, thì trạng thái ấy có vẻ như một điều huyễn hoặc, mộng mị, hay một sự thành tựu hoàn toàn vượt ngoài tâm chúng ta. Điều quan trọng nên nhớ là, đức Phật đã từng là một con người như bạn và tôi. Ngài chưa từng tuyên bố là thần thánh gì cả, ngài chỉ biết ngài có Phật tính, hạt giống của giác ngộ, và mọi người cũng đều có. Phật tính là quyền sống của mọi chúng sinh, và tôi thường nói rằng Phật tính nơi chúng ta cũng tốt như Phật tính nơi bất cứ đức Phật nào. Đấy là tin lành mà đức Phật mang lại cho chúng ta từ khi ngài giác ngộ tại bồ đề tràng, nơi mà nhiều người sau đã tìm thấy nguồn cảm hứng thiêng liêng. Thông điệp của ngài, đem lại cho ta một hy vọng tràn trề. Nhờ luyện tập, chúng ta cũng có thể đạt đến sự tỉnh thức. Nếu điều này không đúng, thì vô số người tư xưa cho đến ngày nay đã không giác ngộ.

Tương truyền khi Phật mới đạt giác ngộ, điều duy nhất ngài muốn làm là chỉ cho tất cả chúng ta tự tính của tâm, san sẻ cho ta những gì ngài đã trực ngộ. Nhưng ngài cũng thấy, với nỗi đau buồn và lòng bi mẫn bao la - rằng thật khó mà làm cho chúng ta hiểu được.

Vì mặc dù ta cũng có tự tánh của tâm như Phật, chúng ta không nhận ra nó được vì nó bị gói kín, bao trùm trong những cái tâm thông thường phàm tục của ta. Hãy tưởng tượng một cái bình trống. Khoảng không trong bình cũng giống hệt như khoảng không bên ngoài. Chỉ có những bức thành mong manh của cái bình đã ngăn cách không gian bên trong với bên ngoài. Tâm Phật trong ta bị vây kín trong những bức thành của tâm thông tục. Nhưng khi ta giác ngộ, thì cũng giống như cái bình vỡ tan thành mảnh vụn. Khoảng không gian “bên trong” liền tan hòa ngay vào không gian “bên ngoài”. Cả hai trở thành một: Ngay lúc đó và tại chỗ đó, ta trực nhận được rằng chúng chưa từng bao giờ có sự ngăn cách hay sai khác; chúng vẫn luôn luôn là một.

Trích trong Tạng thư sống chết
của đức DALAI LAMA

Xin đính chính : Tác giả quyển sách "Tạng thư sống chết" là Sogyal Rinpoche còn đức DALAI LAMA là người viết lời giới thiệu.

thay đổi nội dung bởi: dung9610, 10-10-2008 lúc 8:18 am. Lý do: Đính chính tên Tác giả
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 4 người đã gửi lời cảm ơn đến dung9610 vì bài post hữu ích này:
macvophong (03-02-2010), niemtin2010 (01-04-2011), tuanngan (11-10-2008), VoDanh (04-10-2008)
Old 04-10-2008, 8:33 am  
thien thu 2
Senior Member
 

Default
Thân gởi bạn Dung 9610,

1. Bạn có ebook về Tạng thư sống chết không? Tôi không nghĩ rằng có ngày giờ đánh máy lại như trên?

2. Nhờ bạn xác nhận lại quyển Tạng thư sống chết nầy của Đức Dalai Lama hay của một Vị Lama Tây tạng nào khác?

Thiên thu
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 3 người đã gửi lời cảm ơn đến thien thu 2 vì bài post hữu ích này:
dung9610 (04-10-2008), macvophong (03-02-2010), tumel (04-10-2008)
Old 04-10-2008, 9:02 am  
dung9610
Senior Member
 

Default
Cảm ơn bác Thiên Thu đã nhắc nhở,

Xin lỗi bác và mọi người!
AD xin đính chính quyển sách TẠNG THƯ SỐNG CHẾT là của tác giả Sogyal Rinpoche và đức DALAI LAMA chỉ viết lời giới thiệu.

Quyển sách này là tôi chép từ trên mạng Bác ạ :
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.a...237nvnvn&cochu=

Chào Bác,
AD
Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 04-10-2008, 10:34 pm  
VoDanh
Super Moderator
 
VoDanh's Avatar
 

Default
VỀ NHỮNG KẾT QUẢ GÂY CHẤN ĐỘNG TỪ CUỘC THÁM HIỂM KHOA HỌC Ở HYMALAYA

Giới thiệu tác giả cuốn sách :"Chúng ta thoát thai từ đâu"

E-Rơ-Nơ Mun-Đa-Sép là tiến sĩ y học, giáo sư, Giáo đốc trung tâm phẫu thuật mắt và tạo hình Liên Bang Nga của Bộ Y tế Nga, thầy thuốc Công Huân, huy chương “Vì những cống hiến cho ngành y tế nước nhà”, nhà phẫu thuật thượng hạng, nhà tư vấn danh dự của Đại học Tổng Hợp Lu-In-Svin (Mỹ), viện sĩ Viện Hàn Lâm nhãn khoa Mỹ, bác sĩ nhãn khoa có bằng của Mê-hi-cô, kiện tướng môn du lịch thể thao, ba lần kiện tướng Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội chủ nghĩa Xô Viết.

E-Rơ-Nơ Mun-Đa-Sép là nhà bác học lớn có tên tuổi trên trường quốc tế… Ông là người khai sáng phương hướng mới trong y học - phẫu thuật tái sinh (tức phẫu thuật “cấy ghép” mô người). Ông là người đầu tiên trên thế giới tiến hành phẫu thuật cấy ghép mắt thành công. Hiện nay ông đang nghiên cứu những cơ sở của phẫu thuật tái sinh hàng loạt các bộ phận cơ thể người.

Nhà bác học đã nghiên cứu 90 loại phẫu thuật mới, sáng chế và đưa vào ứng dụng 60 loại nguyên liệu sinh học alloplant, được đăng trên 300 công trình khoa học, nhận 56 bằng sáng chế của Nga và nhiều nước khác trên thế giới. Đi thỉnh giảng và phẫu thuật trên 40 nước. Hàng năm giải phẫu từ 600 đến 800 ca phức tạp nhất.

E-Rơ-Nơ Mun-Đa-Sép thú nhận rằng cho đến giờ ông vẫn chưa hiểu hết thực chất của sáng chế chủ yếu của mình là nguyên liệu sinh học “Allpolant” được chế tạo từ mô người chết mang trong mình nó những cơ cấu tự nhiên cao sâu trong việc sáng tạo cơ thể con người, vì thế trong quá trình nghiên cứu ông không chỉ tiếp xúc với các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực (vật lý học, sinh học phân tử, …) mà còn tìm hiểu cơ sở của các tín ngưỡng tôn giáo và huyền học, nghiên cứu năng lượng tâm thần và những vấn đề liên quan đến nguồn gốc loài người và vũ trụ.

Và sau đây là bài viết của Tạp chí tia sáng:

Bằng phương pháp hình học nhãn khoa và phép logic khoa học, Ernst Muldashev đã đưa ra giả thuyết con ngưới xuất hiện nhờ sự cô đặc của các dòng sóng mang thông tin, có năng lượng tâm linh. Và từ nhiều triệu năm trước, trên trái đất đã từng tồn tại bốn nền văn minh trước khi nền văn minh thứ năm của chúng ta phát nguyên từ Tibet (Tây Tạng) 18.000 năm về trước rồi theo bốn tuyến di cư tỏa ra khắp thế giới. Từ những đôi mắt được vẽ trên các đền đài Tây Tạng và Nepal, nhờ công nghệ thông tin, ông và các cộng sự dựng lại được hình ảnh của người có cặp mắt đó - một con người khác thường so với chủng tộc người của nền văn minh chúng ta, những người Limuri khổng lồ ép xác, có năng lượng tâm linh vô tận - mà những nhà phụng sự tôn giáo ở Tây Tạng và Nepal, Ấn Độ Kính cẩn gọi là “Ngài”.
Qua cuộc thám hiểm ở Hymalaya, Ấn Độ, Nepal, tiếp xúc với các nhà hoạt động tôn giáo phương Đông - những con người “đặc biệt” được chăm sóc những người ép xác trong dãy Hymalaya qua những cuộc đàm thoại với những người nắm được nhiều bí mật của các hang động và, nghiên cứu các tài liệu văn học và sách kinh của các tôn giáo, tác giả đưa ra giả thuyết về quỹ gen nhân loại tại nhiều điểm trên thế giới do nền văn minh Lemuri vô cùng phát triển từ xa xưa (bị huỷ diệt phần lớn do sự đụng độ của một hành tinh khác vào trái đất làm lệch trục trái đất và gây nên đại hồng thuỷ) lập nên và được người của nền văn minh Atlant (bị huỷ diệt đa phần cách đây 850.000 năm do sao chổi rơi xuống nhấn chìm đại lục Atlantic), rồi thêm những người đầu tiên của nền văn minh thứ năm chúng ta bổ sung vào. Theo mức độ linh hồn trong sáng, cao thượng, những người ép xác có thể sống nhiều triều đến nhiều nghìn năm dưới dạng bất động như đá. Quỹ gen nhân loại này được Thế giới kia và đất nước Sambala ngầm dưới mặt đất của những người Limuri chuyển xuống sống trong lòng trái đất, bảo vệ bằng năng lượng tâm linh và bất khả xâm phạm, chỉ những người được lựa chọn mới có thể tiếp xúc.
Quỹ gen nhân loại là sự đảm bảo cho sự tồn tại của nhân loại, bởi lẽ những người ép xác dưới các hang động là những nhân vật ưu tú nhất với tâm hồn trong sáng nhất, biết đồng cảm và yêu thương được sự chỉ bảo của thế giới kia, vào thời điểm cần thiết của nhân loại (cần truyền bá lối sống vì cái thiện, chống cái ác, dạy tri thức cho con người nhằm điều chỉnh, hướng dẫn và thúc đẩy sự tiến bộ) đã hồi sinh và xuất hiện như các đấng Phật, Tiên tri (Chúa Giêxu, Đức Mahomed, Isaac…) hé mở phần nào tri thức của không gian thông tin vũ trụ; hay khi trên trái đất xảy ra thảm hoạ toàn cầu, mất đi nền văn minh, thì những người ép xác là nguồn để phục sinh nhân loại.
Tác giả đã đưa ra giả thuyết lý giải sự tồn tại của các Kinh tự tháp Ai Cập, Nam Mỹ, cánh đồng đá ở nước Anh… là sản phẩm của những nền văn minh trước đây cao hơn nền văn minh của chúng ta; lý giải sự thống nhất của những nguyên lý cơ bản trong các tôn giáo rất khac, sự đồng nhất trong tư duy của các tộc người rất khác nhau trên thế giới - đó là tiếng mạch ngầm của Thế giới kia, của Trí tuệ Tối thượng.
Tác giả chứng minh các khái niệm cái Thiện, cái Ác là trường tháo ra, xoá tri thức, nhưng cái Thiện bao giờ cũng thắng cái Ác nhờ Tình yêu - trường xoắn vào tăng cấp, tăng năng lượng tâm linh. Tất nhiên tác giả không khẳng định các luận cứ của mình, ông chỉ đưa ra những chứng cứ, trích dẫn văn học và kinh thánh, đối chiếu, so sánh các quan niệm và dành cho độc giả quyết định tính đúng hay sai của chúng.
Có lẽ điều quan trọng nhất từ những nghiên cứu này là tác giả đã giương cao ngọn cờ nhân ái, kêu gọi con người hãy làm việc để tích luỹ tri thức, sống yêu thương, đồng cảm lẫn nhau, trừng phạt tội ác, quên mình cho lý tưởng nhân bản. Và chỉ khi nào trên thế giới này cái thiện toàn thắng đối với cái ác thì nhân loại mới có cơ may được Thế giới kia cho phép tiếp xúc với Trí tuệ Tối thượng, và khoa học và công nghệ của nhân loại mới có khả năng đạt tới đỉnh cao như nền văn minh Limuri.
Nguồn: Tạp chí Tia Sáng

Tác giả còn viết tiếp hai quyển :"Bức thông điệp bi thảm của cổ nhân" và :"Trong vòng tay Sambala"
Tôi sẽ post lên 2 video ( xem trực tuyến) nội dung từ quyển sách này đã được truyền hình VTV2 phát lại 4 lần theo yêu cầu của khán giả
Ảnh trang bia của 3 quyển sách đó:

VoDanh

thay đổi nội dung bởi: VoDanh, 04-10-2008 lúc 10:42 pm.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 6 người đã gửi lời cảm ơn đến VoDanh vì bài post hữu ích này:
dung9610 (06-10-2008), Hoa Lan (06-10-2008), Nguyen Thanh Binh (23-07-2010), nguyenbinhda (16-02-2010), tuanngan (11-10-2008), tumel (05-10-2008)
Old 06-10-2008, 5:18 pm  
Hoa Lan
Senior Member
 
Hoa Lan's Avatar
 

Default
3 cuốn này đọc đáng xiền lắm các pác!

Úi giời nhà cháu bon chen mãi tại nhà xuất bản Thế Giới mới tậu được cuốn Trong vòng tay Sambala còn 2 cuốn kia kỳ cạch mượn nguyên bản của 2 pác mãi mới phô tô được. Tốn mấy trăm khìn xiền phô tô nhưng mà đọc sướng lắm nhá!

Mà 2 cái pác cho nhà cháu mượn sách cũng may! Nếu nhà cháu không ra tay mượn sách nhá, có mà năm 3000 người ta mới trả lại sách cho các pác í. He he, cho một người mượn, đòi lại thì họ bảo đã cho bạn mượn, sắp trả rồi. Hỏi cái người bạn kia, bảo cho em họ mượn, hỏi em họ bảo cho bố chồng mượn, bố chồng lại cho bạn thân mượn, bạn thân lại cho con gái đọc và con gái lại cho con rể tương lai đọc. Trong khi thằng giời đánh kia lại cho 1 em xinh tươi khác đọc ạ.

Đồng chí tác giả này hành văn đã hay (tất nhiên cái pác dịch giả cũng rất ổn về tiếng Việt ạ) mà xem ra lối sống của đồng chí ấy cũng rất đáng yêu ạ.
__________________
Nào ta về zero!

thay đổi nội dung bởi: Hoa Lan, 06-10-2008 lúc 5:20 pm.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 08-10-2008, 9:36 am  
thien thu 2
Senior Member
 

Default
Thân gởi bạn Vô Danh và các bạn thích ..tìm cách giới thiệu cái khác giữa Khoa Học ...Hình Tượng và Khoa Học Tâm linh:

Bài post của bạn Vô Danh rất hay nhưng hơi bị ...dài nên làm đau đầu các bạn vào phố rum qua public internet !
Đọc "Hành trình về Phương Đông ",bản dịch của Nguyên Phong cũng ...đở ghiền lắm. (Hi-tech admin nên cho lên đây để mọi người download về nghe vào những đêm ...tìm vào yên lặng!)

Thiên thu
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là người đã gửi lời cảm ơn đến thien thu 2 vì bài post hữu ích này:
Happy (03-05-2009)
Old 09-10-2008, 1:58 pm  
VoDanh
Super Moderator
 
VoDanh's Avatar
 

Default
Chúng ta hãy cùng tác giả "Chúng ta thoát thai từ đâu" thám hiểm Tây tạng:

Video:

http://video.google.com/videoplay?do...&q=mel801+tham

http://video.google.com/videoplay?do...&q=mel801+tham

VoDanh
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 5 người đã gửi lời cảm ơn đến VoDanh vì bài post hữu ích này:
dung9610 (09-10-2008), Happy (03-05-2009), PKDuong (18-10-2008), tuanngan (11-10-2008), zerokun (09-10-2008)
Old 09-10-2008, 11:06 pm  
zerokun
Senior Member
 
zerokun's Avatar
 

Default
Cảm ơn bác Vô Danh nhiều lắm!

Cách đây khoảng 3 năm, Zero vô tình mở TV ra xem, mặc dù rất ít khi xem TV, thì ngay đúng lúc đó trên kênh VTV2 đang chiếu 1 bộ phim khoa học và vào ngay đúng đề tài mà Zero rất quan tâm, đoạn này Bác Sĩ Mundasep đang du hành tại Tây Tạng và được các Vị Lạt Ma Tây Tạng giải thích về những "tiền nhân" là những giống người cao lớn đã từng có mặt trên quả địa cầu (người Lemuri và Atlantic..). Lúc đó Zero mới biết tới tác giả Mundasep, một nhà tri thức hiện đại đã kết hợp thành công những tinh hoa cổ xưa và khoa học hiện đại để tạo nên một kỳ tích làm chấn động thế giới: Tái tạo lại những con mắt đã hoàn toàn bị hư hỏng và đã giúp không biết bao nhiêu người mù sáng lại.

Những khám phá của Bác Sĩ Mundasep có một giá trị Khoa Học - Tâm Linh vô cùng to lớn. Trước những khám phá và ứng dụng thành công của Bác Sĩ đã minh chứng cho tôi rằng thời gian không phải là một hằng số bất biến. Những lý thuyết trừu tượng của Albert Enstein về không gian và thời gian một lần nữa đã được khẳng định trước sự thành công vĩ đại của Bác Sĩ Mundasep khi ông "vượt thời gian" để rút ngắn quá trình hình thành các một con mắt mới!

Bác Sĩ đã nghiên cứu về một chất có tên là "Aloplant" (đó là mô của người chết) một nguyên liệu để tái tạo ra những bộ phận mới. Và công trình này chỉ thành công rực rở sau khi ông đi thảm hiểm Tây Tạng với mục đích tìm hiểu về nguồn gốc loài người. Tại Tây Tạng, Bác Sĩ đã tình cờ khám phá ra những ngọn núi trùng điệp ở Tây Tạng không phải có dáng dấp ngẫu nhiên mà dường như chúng đều đã từng có một hình thể nhất định nhưng đã bị thời gian làm mờ đi dấu tích, đó là hình dáng của những Đại Kim Tự Tháp với đủ loại hình dạng và kiểu dáng. Mà sau này ông được biết đó là một Đại Mạn Đà La được tạo ra vì mục đích gì đó (tạo ra giống dân Ariang hiện nay chăng?). Tại đây, Bác Sĩ còn khá phá rất nhiều điều kỳ bí, một trong số đó là Tấm Gương của Tử Vương Iama (một vách núi đá khổng lồ tạo thành một vong cung cực lớn) mà tại đó theo truyền thuyết, con người sẽ đối diện với "Lương Tâm" của mình, họ sẽ được xem lại cuộc đời và những tư tưởng của mình như một cuốn video với đầy cảm xúc. Và thật hữu duyên, chính kiệt tác vĩ đại này đã mở ra cho ông, cũng như chúng ta một cách nhìn đúng đắn hơn về "khái niệm thời gian". Ông đã nhận ra rằng chính cái tính chất "cong - lõm" của một tấm gương vĩ đại đã làm bẻ cong thời gian mà tại tiêu điểm của nó đã đưa người ta vượt ra ngoài thời gian bình thường. Ông đã ứng dụng thành công mô hình này trong việc rút ngắn thời gian tái tạo mô mắt bằng một hệ thống thấu kính.

Trong những khám phá của Mundasep tại đất nước Tây Tạng còn mở ra nhiều bí mật về nguồn gốc loài người với những giả thuyết nữa hư nữa thật để cho chúng ta có một cái nhìn sâu sắc hơn về thế giới tâm linh - khoa học và về những minh triết thật vĩ đại của cổ nhân.

Từ khi xem được bộ phim khoa học này, Zero đã để ý tìm hiểu về những tài liệu của nhón Bác Sĩ Mundasep trong đó Zero vẫn mong muốn tìm lại bộ phim khoa học mà mình đã tình cờ được xem trên kênh truyền hình thì nay lại được bác Vô Danh đưa ra. Thật là vui mừng nên cũng muốn viết đôi lời giới thiệu về việc này.

Zero muốn xin bác file gốc của video để có thể làm ra đĩa VCD. Bác có thể upload lên mọi người down về được không ạ? File mp4 down từ Google Video đã giảm chất lượng đi rất nhiều.

Cảm ơn bác!
Zerokun (^_^)
__________________
Thiên hạ bổn vô sự
Dung nhân tự nhiễu chi.

Trong thiên hạ vốn không có việc gì cả,
Chỉ tại người xằng làm rộn chuyện đó thôi.

thay đổi nội dung bởi: zerokun, 10-10-2008 lúc 1:44 am.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 3 người đã gửi lời cảm ơn đến zerokun vì bài post hữu ích này:
dung9610 (10-10-2008), Happy (03-05-2009), VoDanh (10-10-2008)
Gởi Ðề Tài Mới Trả lời


Những đề tài tương tự
Ðề tài Người Gởi Chuyên mục Trả lời Bài mới gởi
ThÔng ĐiỆp TỪ MỘt BỘ LẠc KỲ BÍ GỞi Cho ThẾ GiỚi VĂn Minh HiỆn Nay dung9610 Tâm linh 15 02-09-2014 2:44 pm
Trao đổi về lịch sử Atlantic tuanngan Thông báo - Tin tức 0 23-08-2008 8:51 pm
Chuyên đề kỷ niệm ngày Phật Đản HoangMai Tâm linh 4 19-05-2008 11:47 pm
LỚp TiỀm NĂng I-ii-iii, Houston, Texas, U.s thatsonphutu Tâm linh 0 29-02-2008 12:19 am

Ðang đọc: 2 (0 thành viên và 2 khách)
 
Công cụ
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến



UE-GLOBAL.COM
Powered by vBulletin & vBadvanced CMPS
Copyright © 2000 - 2018, Jelsoft Enterprises Ltd.
vBulletin Skin developed by: vBStyles