UE Global
Translate this webpage (Google Translation):
    »
Choose your language:      

Chọn diễn đàn
Main Forums
English Forum
www.ue-global.com
Forum Français
French Forum
fr.ue-global.com
Diễn đàn Tiếng Việt
Vietnamese Forum
vn.ue-global.com
Русскоязычные форумы
Russian Forum
ru.ue-global.com
Foro en Español
Spanish Forum
es.ue-global.com

Chào mừng bạn đến với UE Global.
Go Back   UE Global > Diễn đàn Nhân Điện Tiếng Việt > Ứng dụng tâm linh vào đời sống

Gởi Ðề Tài Mới Trả lời
 
Công cụ Xếp Bài
Khoa học tâm linh nhân điện.
Old 16-01-2012, 5:00 pm  
tuanvu_quynh1949
Senior Member
 
tuanvu_quynh1949's Avatar
 

Default Khoa học tâm linh nhân điện.
KHOA HỌC TÂM LINH NHÂN ĐIỆN





TÌNH YÊU CUỘC SỐNG



Lời tự sự của Mê Kông

Tình yêu cuộc sống là chân giá trị siêu phàm, thiêng liêng mà mỗi chúng ta được lãnh nhận từ Đấng Tự Nhiên Vĩ Đại. Con người luôn là thành tố tự nhiên và là sinh thể đại diện cao cấp nhất cho sự sống muôn màu muôn vẻ mà Đấng Sáng Tạo đã dành cho trái đất này. Được sống làm người là một may mắn, một ân huệ vô lượng. Hãy sống để đón nhận và trình diễn tâm hồn đẹp và cao quý của mình với đất trời, núi sông hùng vĩ và với con người cần lao. Tình yêu cuộc sống là sự nhận cảm vẻ đẹp vô ngôn của sự sống muôn loài và đó chính là sự hiện diện của Thượng Đế trong lòng ta. Thiết tha yêu cuộc sống và sống có trách nhiệm với nhau và muôn loài để bảo tồn và phát triển sự sống, thì Thượng Đế "tình yêu cuộc sống" luôn đồng hành bên ta, "hồn thiêng sông núi" và “sinh lực tỏa sáng càn khôn” luôn chiếu rọi muôn nơi trên hành tinh xanh này.





Chương 1


THÔNG ĐIỆP TỪ MẸ

Vẳng nghe chim lạc kêu chiều
Bâng khuâng nhớ Mẹ chín chiều ruột đau
Hành trang của đứa con sau*
Ấy là tình Mẹ** xốn xang con chờ

* đứa con sau: giống dân thứ 6, sau người thể đặc hiện đại, giống dân thứ 5 theo truyền thuyết bí ẩn lưu truyền lại đến ngày nay
**Tình Mẹ, Mẹ trái đất ẩn chứa năm thành tố tự nhiên vật chất là đất, nước, lửa, gió và con người và ở đâu trong càn khôn này hội đủ các thành tố đó thì niết bàn hay thiêng đàng của sự sống xuất hiện. Mẹ là biểu tượng tình yêu cuộc sống thiết tha nhất là sự nhận cảm vẻ đẹp vô ngôn của sự sống trong mỗi tâm hồn con người.

Mẹ Trái đất trăn trở

Ông tiên thời gian đang quay những vòng quay hối hả, đưa mẹ Trái Đất của chúng ta đến bến bờ mới “cực zero”, tạm gọi như vậy. Sinh lực tỏa sáng càn khôn với những băng tần sóng điện siêu tinh khiết, mới lạ đang ập vào lòng Mẹ, dưới dạng năng lượng vũ trụ vi tế, năng lượng ẩn tự nhiên. Sinh lực tỏa sáng càn khôn vi tế ấy đang là động lực sinh thành thế giới mới, con người mới mà mỗi chúng con đang đón nhận trong sự ngủ say, giấc ngủ cả ngàn năm tăm tối.
Những đứa con của mẹ, đói khát tình thương và sữa mẹ đang ngơ ngác, lo lắng thấp thỏm về ngày “ra đi”của mẹ. Đó mới điều là nghịch lý. Vì sao vậy? Mẹ ra đi vì đã bao ngàn triệu năm nay, Mẹ lầm lũi, tủi nhục, để ôm ấp che chở, nuôi nấng đàn con thơ dại và dại khờ đến mức không nhận ra mẹ vì đói khát vật chất trong lòng mẹ. Mẹ có tiếc gì đâu kể cả trái tim duy trì sự sống của Mẹ vì các con. Tình thương yêu vô hạn của mẹ dành cho ai đây, ngoài những đứa đang con sống trong lòng Mẹ. Nhưng con oi! sữa mẹ đâu phải dầu mỏ, hơi mẹ đâu phải khí đốt, tình Mẹ đâu phải sự đố kỵ, ghen ghét, tranh quyền đoạt lợi và hận thù. Mẹ sững sờ vì đàn con thơ dại, hiếu thắng, đòi chinh phục cả tự nhiên, vị ngự ở nơi cao xanh, xa vời vợi, vượt xa cả những tưởng tượng siêu phàm của con người.
Tình mẹ chính là ngọn lửa tình yêu cuộc sống, phi vật chất, ẩn chứa trong con. Sữa mẹ là nước tinh khiết chảy từ những con suối nơi đầu nguồn và đổ ra khắp các dòng sông ở mọi nơi trên thế gian này. Để rồi hòa chung vào biển lớn, biển tình mẹ, nghĩa cha. Hơi mẹ là không khí trong lành, mà mỗi buổi ban mai con thẫn thờ cảm nhận, sau một đêm dài chìm trong giấc ngủ “vô minh” ảo ảnh của những tham vọng vật chất khôn cùng. Da thịt mẹ là “đất lành chim đậu” nơi con đang sống. Bóng Mẹ là những ngọn gió mát trong lành đến với con vào buổi trưa hè oi ả. Còn các con là những con người vật chất bằng da bằng thịt, được mẹ sinh ra từ vật chất và được Cha trên trời thổi vào luồng sinh khí tự nhiên của Ngài. Vậy đấy, đất, nước, lửa, gió và con người là năm thành tố tự nhiên có từ lòng Mẹ con có thể quên rồi sao? Cha dặn mẹ lưu giữ cho Ngài hàng triệu triệu năm nay và mẹ đâu có tiếc tuổi “thanh xuân” của mình vì chữ tín và tình yêu với Ngài.
Con có “quyền con người” để tự do, vậy đất, nước, lửa, gió kia thì sao? Con đã cướp đi quyền của các anh chị con và con cho đó là quyền tự do của mình. Nào là khai mỏ đào vàng, hút dầu làm phương hại đến quyền tự nhiên của đất. Nào là ngăn sông đắp đập, ngăn trở cả nhịp sống của các dòng sông. Nào là xây dựng các cao ốc cản trở sự tự nhiên di chuyển của làn gió. Rồi cuối cùng là lấy điện thay lửa (điện sản xuất từ dầu, từ than đá và các chất phóng xạ chết người), làm lụi tàn những cánh tro mang hơi lửa tự nhiên. Sự bất tuân những “quyền” cơ bản của các thành tố tự nhiên vật chất do chính con gây ra sao còn trách Mẹ? Mẹ đã buộc phải trở mình để cứu các con yêu của mẹ là đất, lửa, nước, gió và con người để chúng được quyền tồn tại theo sự xếp đặt của tự nhiên, mà trong đó con là đứa con út “ngạo mạn” đáng yêu của mẹ. Mẹ không muốn làm, nhưng đã là quy luật của tự nhiên đâu cưỡng được và mỗi lần như vậy là mỗi lần lòng mẹ tái tê, xót xa cho đứa con út đáng thương.
Nhưng rồi như quy luật tái sinh của sự sống vũ trụ, mẹ lại sinh sôi đàn con mới từ “quỹ gen” nhân loại chứa trong lòng Mẹ và rồi Ngài trên trời lại thổi vào hơi ấm sự sống từ Đại càn khôn, để thế hệ các con “giống nhân loại” mới lần lượt ra đời. Mỗi lần mẹ tẩy rửa thân xác, các con hãy xem là mỗi lần mẹ “trở dạ” vậy thôi, chứ mẹ an phận là “người đàn bà vũ trụ” chỉ biết sinh nở nuôi nấng các con, còn số phận của các con, mẹ đâu có định đoạt được, mà nếu có thì hãy tự hỏi mình và hỏi Ngài, Đấng Tạo Hóa mang hơi thở Càn Khôn để nghe lời chỉ dạy.
Bạn ơi, nếu bạn cùng chia sẻ với chúng tôi ý tứ trên đây về số phận “người Đàn bà vũ trụ” thì chúng ta mới thấu hiểu tình Mẹ trái đất rộng lớn như thế nào. Chúng ta đã quên đi vai trò sống chung với những thành tố tự nhiên là đất, nước, lửa và gió. Đó là những người “anh em vật chất” có cùng gốc với chúng ta. Nếu hỏi số phận của Mẹ trái đất như thế nào trong chu kỳ biến đổi lần này, thì chỉ có thể trả lời ngắn gọn “thay đổi và không thể dự đoán” để năm thành tố vật chất, tự nhiên ở không gian ba chiều này, biến đổi và giao hòa với các chiều không gian khác, theo mô hình “chuyển đổi vi tế” để hòa nhịp với đời sống mới của vũ trụ. Nói dễ hiểu hơn, những chìa khóa mới để “vật chất hóa” và “phi vật chất hóa” sẽ trao cho nhân loại mới để loài người ba chiều, người thể đặc, song hành và hài hòa với những đời sống của những “người sóng điện” ở các không gian bốn chiều và nhiều chiều khác. Khi sự giao thoa xảy ra giữa các không gian đa chiều với không gian ba chiều, sẽ xảy ra sự giải phóng những “năng lượng vi tế” hàm chứa trong thời gian tự do. Thể hiện của sự giải phóng năng lượng này, đã bắt đầu xảy ra, và ai cũng biết đó là động đất, sóng thần, bão tố, hạn hán, băng tan v.v. Còn có điều gì nữa không? Tất tùy thuộc vào sự minh triết giác ngộ của nhân loại. Nếu các cấu hình tư tưởng mới với nghĩa đơn giản là “tâm hồn tinh khiết” yêu cuộc sống xuất hiện càng nhiều trong bầu không gian trái đất, khung giá trị mới do chính con người xây dựng “sống để yêu thương và chia sẻ với muôn loài”, thì sẽ không còn điều gì khốc liệt mới nữa và Mẹ trái đất sẽ vẫn mãi bên các con như ngày nào. Và đó sẽ dường như là lời cảnh báo cuối cùng cho số phận của loài người trên thế giới này.

Lòng mẹ rộng vô cùng

Từ nơi sâu thẳm trái tim mỗi con người, con hãy tự hỏi mình, đã mấy lần khi được sống hoàn toàn thanh thản con đã biết nhớ về công đức cao dày của Mẹ con, trái đất? Có chăng con chỉ tưởng nhớ tới Cha con, vị Thượng Đế, vị Chúa tể muôn loài vạn vật, đầy quyền lực tối thượng và với những luật tự nhiên thẳng thừng, khắc nghiệt của Ngài. Đối với Ngài, con và cả Mẹ nữa, chỉ được coi là một dấu chấm không có kích thước trong đại càn không bao la vô cùng vô tận. Đó mới là điều nghịch lý. Đáng tiếc thay, trong suốt chiều dài lịch sử lầm than của nhân loại, chưa có bất kỳ một triết lý nào, một đạo giáo nào, một con người nào, nhắc tới vai trò và tình Mẹ trái đất một cách đầy đủ thiêng liêng nhất. Đó chính là sự hư hỏng của nòi giống con người, và đó cũng chính là sự tiến hóa thụt lùi của nhân loại.
Con đã bao giờ thấy được Cha trên trời hiện hữu chưa? Nếu có, đó chỉ là hoang tưởng, vì Ngài không bao giờ xuất hiện trên thế gian này với cấu hình tư tưởng yêu thương, che chở, nuôi dưỡng các con như Mẹ. “Cấu hình tư tưởng đại càn khôn” của Cha trên trời, là “không nguyên”, là zero và chỉ có tình mẹ là “nhị nguyên” với cảm giác hạnh phúc và bất hạnh, có ác có tà, có đúng có sai. Cấu hình tưởng “nhất nguyên” về vũ trụ, cũng chỉ là hoang tưởng vì có “nhất nguyên” thì phải có “nhị nguyên” và hai cấu hình tư tưởng ấy suy ra vô cùng vô tận thì rốt cục cũng chỉ là những cấu hình “vòng vo luẩn quẩn”. Nó không thể có chỗ đứng, với giống người vật chất thể đặc của các con. Ngay cả đến Mẹ đã hơn ba tỷ năm nay sống “một bề” nuôi các con vẫn chưa hề được gặp Ngài. Vì sao vậy? Vì Đại càn khôn này là vô cùng vô tận, và ở cõi trời cao kia có hằng hà xa số những hành tinh như mẹ, những “người đàn bà vũ trụ”, “xinh đẹp, tài trí, đoan trang”. Mỗi một lần Ngài gặp lại mẹ có lẽ phải hàng tỷ năm ánh sáng. Ngài nghiêm khắc đến mức coi mọi lời thỉnh cầu của Mẹ xin được che chở các con “qua cơn bỉ cực” lần này như gió thoảng và những tiếng kêu cầu của Mẹ để các con được sống như những tiếng nói lạc loài. Vậy đấy, thế mà hàng ngàn năm nay các con cứ khăng khăng chỉ biết tới Ngài và trông đợi hoài ngày Đấng Cứu Thế (Thượng Đế) trở lại cứu vớt mạng sống của mình thì thật lầm lạc và hoang tưởng biết bao nhiêu!. Hãy sống với hiện tại từng giây từng phút, khi còn được sống làm người, đó là lời nhắn gửi của Mẹ tới các con. Sống sao để nhận cảm hết tình Mẹ trái đất, thì mới có cấu hình tình thương ba chiều như Mẹ, mà thương lẫn nhau và muôn loài vạn vật, những thành tố tự nhiên vật chất chứa trong lòng Mẹ trái đất của các con. Tình thương của Thượng Đế, cao siêu lắm, mang cấu hình của các chiều không gian đa chiều khác, mà chẳng bao giờ người ba chiều hiểu được. Ngài không có khái niệm tình thương, Ngài không có mục đích, Ngài là Đấng sinh thành Đại càn khôn. Ngài giao cho Mẹ sinh dưỡng và an bài cho các con đó.
Con yêu của mẹ, Mẹ nhắc lại câu này để tổng kết lại những gì mà các con đã đạt được về sự tiến hóa tâm linh “thụt lùi” trong lịch sử dài đằng đẵng đã thấm máu và thịt da các con:
“Con kiến mà leo cành đa, leo phải cành cụt, leo ra leo vào
Con kiến mà leo cành đào, leo phải cành cụt leo vào leo ra”
Cấu hình tư tưởng nhị nguyên phân sự vật, sự việc ra hai phần tương phản trắng đen, thiện ác, tốt xấu, phải trái, đực cái, hạnh phúc bất hạnh, giống như cái cành cụt trong câu ca dao trên. Cái thiện sinh ra vì cái cái ác lộng hành, cái tốt hiện hữu vì con đã bao lần làm việc xấu. Nếu ví cái tốt là đầu chóp của cành cụt kia, để con vươn tới, thì cái đầu cành cụt bám vào thân cây kia là xấu sao? Không có cái đầu bám vào thân cây, nơi đang có con chim gõ kiến, ăn kiến, nằm chờ, thì liệu cái đầu cành cụt, mà đàn kiến hy vọng chạy trốn kia, có tồn tại. Loài người cứ luẩn quẩn mãi với cấu hình tư tưởng này thì làm sao mà tiến hóa được. Nhất nguyên chủ thuyết cũng vậy, cứ hợp nhất mãi với muôn loài vạn vật cả ngàn năm nay, cứ chờ mãi chờ hoài, chờ kết quả thành công, chờ ngày có Đấng tối thượng Nhất nguyên về cứu, chờ đến bao giờ nữa đây? Khi mà đời sống của các con là đời sống vật chất thể đặc, vẫn cần cơm áo gạo tiền và các phương tiện sống khác phục vụ con người ba chiều. Những người thân yêu nhất của mình trong gia đình, con không giúp được mấy, mà lại hy vọng đi giúp người xa lạ và muôn loài thì xem lại cái cấu hình nhất nguyên đãng trí của các con đi.
Tình Mẹ là tình thương ba chiều, mang cấu hình các thành tố tự nhiên vật chất. Đất lành nơi con ở là tình yêu của Mẹ đượm trong đất, gió lành mang hơi Mẹ có ở muôn nơi, nước con uống là sữa Mẹ trong lành có ở mọi nơi trên thân thể Mẹ, lửa con sưởi ấm là nhiệt huyết của tình Mẹ, tinh tấn những hưng phấn thầm lặng trong trái tim con.
“Đất quê ta mênh mông, lòng mẹ rộng vô cùng”
Lời ca của đứa con ngoan, ca về tình Mẹ, bên bờ sông Mê Kông, mang nguồn sữa Mẹ từ Tây Tạng chảy về, trong thời khắc chiến tranh khốc liệt nhất ở quê lúa Việt Nam, đã thấm sâu tình Mẹ. Mẹ Trái đất thân yêu, Mẹ lượng thứ tất cả vì tình mẹ rộng đến vô cùng. Mẹ lượng thứ cho những đứa con chỉ biết ôm quá khứ mà sống, để rồi tự tôn thờ các danh hư ảo của chính mình. Mẹ thiết tha đôn hậu, từ bi, độ lượng với những đứa con lầm lạc của mẹ, chỉ biết sống cho tương lai để tích cóp vật chất, xây những lâu đài sang trọng cho những “bóng ma”. Mẹ là hiện tại và hiện tại là vĩnh hằng. Nếu hiện tại không vĩnh hằng thì trái đất và cả đại càn khôn không còn khái niệm. Hết tất cả!
Lòng Mẹ rộng đến vô cùng cũng chính bởi hiện tại các con đang làm đau lòng Mẹ, vì sự tàn phá vật chất trong lòng Mẹ của những đứa con vô minh không biết dùng dòng sữa Mẹ mà thăng hoa những giá trị tinh thần. Mỗi lần con dùng mũi khoan dầu cắm vào lòng Mẹ, Mẹ cắn đôi bờ môi mềm chịu đựng trong sự khoan dung vô lượng. Mỗi lần con dùng thuốc nổ, tàn phá những ngọn núi dòng kênh để xây dựng lâu đài “ma quỷ” lòng Mẹ lại ngẩn ngơ nuối tiếc. Hỏi xem các biệt thự sang trọng nhất ở thế gian này sẽ có ý nghĩa gì? Khi mà ở đâu đó, nơi Phi châu hay khắp các miền sơn cước trên thế giới này đang có hàng tỷ những đứa con của Mẹ đói khát vật chất đến kiệt sức và héo hon tinh thần đến bạc nhược. Lòng Mẹ quặn đau, khi mỗi lần con vô minh giẫm đạp lên xác mẹ, tàn phá những cánh rừng nguyên sinh có tuổi cả triệu năm ở Brazin và nhiều cánh rừng “tóc Mẹ” “phổi Mẹ” trên thế giới này, để trồng cây có dầu năng lượng sinh học (bio energy) nhằm chạy những xe hơi sang trọng. Khi con người còn thiếu ăn mà lại dùng lương thực chế ethanol chạy xe hơi với tiêu chí “nhiên liệu sạch” thì thật vô minh cho số phận đáng chết của các con. Thật quá ngạo mạn, phá luật Trời, xơ cứng tình thương.
Sữa mẹ từ núi tuyết
Chảy mãi triệu triệu năm
Qua chín cửa Mê Kông
Con đói hoài sữa Mẹ
Đã nhiều lần Mẹ phải thay đổi để có giống dân các con thể đặc ngày nay. Trước khi “phải” trở dạ làm sạch mình lần này, Mẹ đã thỉnh cầu ý Cha và Ngài chỉ mỉm cười. Lòng Mẹ lại một nữa tan nát và các con ơi! Mẹ nhớ thương các con vô ngần. Những tâm thức của những đứa con đã giải phóng khỏi tâm trí vô minh sẽ được hợp lại thành những cấu hình sự sống nguyên thủy, mà Cha đã gửi Mẹ lưu giữ từ ngày khai thiên lập địa, nơi mái nhà thế giới, được biết đến với khái niệm dễ hiểu núi tuyết. Cấu hình tư tưởng mới của con người ở thế giới ba chiều này có lẽ sẽ là “Ăn năng lượng vũ trụ, chơi với muôn loài, sinh sản đâm chồi và …” thì mới hy vọng dọn sạch được các thói hư tật xấu tích cóp vật chất để sống với quá khứ hoặc tương lai. Hãy sống với hiện tại vĩnh cửu đi, con sẽ hiểu được lòng Mẹ rộng đến vô cùng.

Ngọn lửa Trời sưởi ấm trái tim Mẹ và nguồn sống cho con

Hành tinh xanh này, cất giữ biết bao thành tố tự nhiên vật chất quý báu từ hàng tỷ năm nay, nào là dầu mỏ, khí đốt, khoáng sản và đặc biệt là bầu không khí trong lành cho sự sống muôn loài ở không gian ba chiều này. Sự sinh nở của Mẹ trái đất liên tục không ngơi nghỉ, khi ánh nắng mặt trời còn tỏa sáng trên bầu trời. Nguồn ánh sáng ấy là sinh lực càn khôn dành cho các con trên thế gian này thông qua tình Mẹ. Các con đã biết (theo tính toán khoa học) chí ít mặt trời cũng còn tồn tại khoảng 3 tỷ năm nữa và mới chỉ 0,023 % năng lượng mặt trời được sử dụng vào quá trình quang hợp để tạo sinh khối của sinh giới, thông qua “cuộc tình” của ánh nắng mặt trời với nước và các chất khoáng trong đất. Nơi hội tụ của “cuộc tình” tay ba đó là tế bào diệp lục có ở thực vật, từ tảo cho đến các cây cối các loại, mà Mẹ thay Cha trên trời nâng đỡ “mối manh”. Sự sinh nở của Mẹ nhờ tế bào thực vật, tế bào sản xuất thức ăn nguyên khởi, tạo ra nguồn sinh khối (biomass) là nguồn thức ăn cho muôn loài trong chuỗi thức ăn tự nhiên (food chain). Như vậy từ các thành tố tự nhiên vật chất, lửa (ánh nắng mặt trời), nước và đất thông qua tế bào diệp lục vi tế của lá cây, đã tạo ra nguồn thức ăn cho muôn loài. Loài động vật ăn cỏ, ăn thực vật và nó lại là mồi cho loài ăn thịt trên rừng. Tôm cua cá nhỏ, ăn rong tảo và làm mồi cho các loài cá ăn thịt dưới sông, hồ, ao và biển. Đứng trên của chuỗi thức ăn là con người và các con có biết bao nguồn thức ăn giàu có từ “rừng vàng biển bạc”. Các con có đặc ân được Mẹ trái đất và Cha trên trời không bắt phải làm thức ăn cho bất cứ loài nào trong chuỗi thức ăn, các con có biết không? Không những thế, các con còn đóng vai trò thay Mẹ phân phối thức ăn cho muôn loài, theo luật tự nhiên, nhờ trí khôn chứ không phải nhờ sức mạnh thân xác. Vậy mà các con lại tích lũy thức ăn không những cho đời mình, mà cho cả thế hệ con cái mình bằng “đồng tiền vô minh”. Những sinh thể đồng loại là con người của các con, ở các vùng giàu ánh nắng mặt trời, nhiều thức ăn nhất (các nước đang phát triển developing countries) lại thiếu ăn và đó là nghịch lý. Một nghịch lý thiếu đói lương thực và thực phẩm không đáng có, mà nguyên nhân là sự phân phối thức ăn cho nhân loại bị đồng tiền tham lam chặn lại.
Muốn hiểu Mẹ đang làm gì cho các con hãy lên rừng xuống biển mà tìm. Các con đã bất tuân luật tự nhiên dồn về các thành phố để sinh sống trong các căn hộ dạng “lồng công nghiệp” để tiếng khóc trẻ thơ bị át bởi tiếng máy gầm. Sử dụng các thiết bị công nghiệp sản xuất từ năng lượng hóa thạch cho cuộc sống “văn minh công nghiệp”, nên tâm trí các con đâu còn tính tự nhiên nguyên ủy nữa. Vì sao vậy? vì xa Mẹ, xa những thành tố tự nhiên vất chất: lửa, nước, đất, gió tinh nguyên, xa rừng xa biển. Khi nói đến Mẹ trái đất, các con xưa gọi là Mẹ là “hồn thiêng sông núi” và hãy suy ngẫm kỹ thông điệp này. Sự lầm lạc, lỗi trong tư duy của các con là coi núi sông chỉ là những vật vô tri. Núi tuyết ở Tây Tạng và núi ở biết bao vùng khác trên thế gian này đã ẩn chứa, cất giữ vốn gen nhân loại và các dòng sông nằm trải dài trên các lục địa đều ẩn chứa sữa Mẹ (nước tinh khiết), nuôi con và muôn loài sinh trưởng tốt tươi.
Chu kỳ các-bon mất cân bằng do tầng san hô dưới biển, “lá phổi” biển khơi bị tàn phá do hóa chất công nghiệp và sự khai thác bừa bãi của con người và bầu không khí trong lành bao quanh trái đất bị ám bụi khói công nghiệp đến ngạt thở. Từ đó dẫn tới băng tan ở hai đầu cực do hiệu ứng nhà kính (green house effect) làm trái đất nóng lên. Ai đã bất tuân luật tự nhiên đây? Nếu các con là nhà khoa học thì sẽ thấu hiểu điều này. Lòng mẹ xót xa khi phải chứng kiến “phổi” Mẹ dưới biển khơi, rừng san hô rớm máu, mà các con gọi là vấn nạn “thủy triều đỏ”, san hô chết âm thầm trong lòng biển. Rừng san hô dưới lòng các đại dương là sinh vật tích tụ và giữ khí các-bô- níc (Co2) để khí quyển bớt gánh nặng của chất khí độc hại này. Đó là “lá phổi Mẹ” dưới lòng biển khơi, với chức năng giữ cho chu kỳ các-bon được điều hòa, con có hiểu cho lòng mẹ không. Nếu giảm thiểu được khí thải công nghiệp, ngăn chặn được nạn phá rừng bừa bãi và quan trọng nhất là thay đổi thói quen chiếm hữu và khai thác ồ ạt nguồn tài nguyên hóa thạch để làm giàu vô nguyên tắc, thì số phận của các con thể đặc ba chiều sẽ “tự động” an bài. Mẹ không phải nặng lòng xoay mình (trái đất đổi trục) để sự sống của các con được toàn vẹn. Hãy họp và thỏa thuận với nhau đi, để cứu mạng sống của chính mình. Nếu lời nhắn gửi này của Mẹ tới các con bị lãng quên, thì hãy đừng bao giờ than thân trách phận nữa và đời là bể khổ chính vì lòng tham của con người.
Không có phép màu nhiệm nào có thể cứu được sự sống của nhân loại thể đặc ba chiều, tham lam, trừ khi tiềm năng của con người được khai mở, sự hiểu biết về những quy luật đơn giản nhất về sự sống trên trái đất, như đã trình bày ở trên. Mẹ dặn lại điều tối quan trọng này mà Ngài đã dặn mới đây “chỉ có con người mới giúp được con người” lúc này thôi.

Lòng Mẹ tan nát trước lúc trở mình

Mẹ không bao giờ có ý định rời bỏ các con yêu của Mẹ, cho dù các con, do vô minh đã “làm rỗng lòng Mẹ” để làm giàu. Và thực tế dưới đây có phải là “thành quả” khoa học của các con đạt được trong thế kỷ trước và hiện nay không?.
Tất cả các thành tựu khoa học mang lại đời sống văn minh vật chất ngày nay đều bắt nguồn từ việc sử dụng năng lượng hóa thạch, dầu mỏ, khí đốt, khoáng sản, những sản vật trong lòng đất, mưu cầu làm giàu nhằm thỏa mãn sự đòi hỏi của các giác quan, gọi là dục vọng của các con. Tình Mẹ rộng vô cùng thì con đã biết, nhưng các con làm ngơ một thực tế “lòng Mẹ (lòng đất) rỗng vô cùng”. Từ thế kỷ trước kéo mãi cho tới hiện nay, gọi là “những kỷ nguyên văn minh dầu mỏ” thì đã hàng tỷ tấn dầu và hơi đốt được các con hút ra từ lòng Mẹ trái đất và làm lòng Mẹ rỗng.
Các con đã chứng kiến các trận động đất kinh hoàng xảy ra trong những năm vừa qua và con có biết tại sao không? Quy luật của dịch chuyển địa tầng đó, phần rỗng trong lòng Mẹ được lấp đầy lại sau động đất, để Mẹ “sống”, mà Mẹ có sống, thì mới có sữa nuôi các con được. Hãy đừng trách Mẹ con nhé. Các trận bão typhoon khủng khiếp, những vòi rồng tonado chưa từng thấy đã tàn phá đời sống của các con, làm lòng mẹ quặn đau và các con có biết tại sao không? Các dòng nước biển nóng đối lưu bất thường do nhiệt độ trái đất tăng cao và thêm vào là áp lực khí quyển “hơi thở Mẹ” bị nhiễm bẩn bởi khí công nghiệp. Hậu quả làm cho chênh lệch khí áp diễn ra cục bộ liên tục, Mẹ phải “hắt hơi” để thải những tạp chất đó và giữ cho Mẹ được sống. Mẹ có sống mới có thể mang hơi ấm tình Mẹ dành cho các con. Hạn hán lụt lội khắp nơi làm cho mùa màng thất bát và cướp đi sinh mạng của nhiều đứa con vô tội, cũng là do chu kỳ các-bon đảo lộn và nạn chặt phá rừng bừa bãi, đến nỗi chim thú trên rừng hết nơi nương tựa mà sống. Nhiều loài có cả triệu năm nay có nguy cơ diệt vong. Mẹ phải ứa lệ (lụt) và rồi khóc than đến khô cả làn nước mắt (hạn hán) để chờ ngày các con ngộ ra “nọc độc” của lòng tham.
Bệnh tật thì sao? Từ người giàu đến kẻ nghèo ai cũng thấy bất an vì bệnh dịch, chiến tranh, khủng bố đe dọa và nhiều nguy cơ khác. Bệnh từ đâu mà nhiều như vậy? Từ sản phẩm chế từ dầu lửa và các khoáng chất độc hại (các kim loại nặng) có ở mọi nơi trong không gian sống của các con. Màu sắc của đồ ăn, đến hương vị công nghiệp thơm ngon trong đồ uống, rồi các chất bảo quản thực phẩm đều là sản phẩm của “cuộc cách mạng hóa học” chế từ dầu mỏ và khoáng chất độc hại. Dư lượng hóa chất đã quá lớn ngoài sức chịu đựng của tế bào và bệnh tật khó xác định nguyên nhân cứ âm thầm tìm gặp các con. Đất nước Việt Nam có cây dừa, nước dừa đọng trong trái cây này là kết quả di hành của nước từ lòng đất qua hàng tỷ tế bào thân lá dừa, sạch và bổ đến mức có thể truyền trực tiếp vào máu cho người bệnh. Vậy mà uống nước dừa lại bị coi là quê mùa và uống Coca mới được coi là hạng người sành điệu. Ai đã nhồi vào đầu các con những kiến thức kỳ quái này? Dân trí của thế hệ 8X ngày nay là vậy và tội cho các con đã nhiễm độc bởi những chiêu quảng cáo của ai đó vì lợi ích đã bất chấp cả tình thương đơn giản nhất của một con người. Phân bón và hóa chất nông nghiệp sản xuất từ dầu mỏ đã tàn phá môi sinh và ngay đến con cua, con ốc cũng chết tàn lụi ở những vùng thâm canh lúa nước quê nhà và khắp nơi trên thế giới.
Thân thể Mẹ đang được các con chia cắt thành từng mảnh và vì sao vậy? Người dân quốc gia nào thì biết quốc gia đó, chỉ biết làm hết mọi việc cho quốc gia, cho lợi ích quốc gia và đến dòng sông chạy qua quốc gia nào thì bị xứ dân đó “tóm cổ” chia cắt, làm đập giữ nước dùng cho riêng xứ mình. Mẹ ngẩn ngơ vì dòng sữa Mẹ bị tắc nghẽn. Long mạch (theo quan điểm đông phương) bị dập vùi trong nhơ nhuốc thì làm sao lòng người yên được. Tâm trí con người bị loạn thức, do có quá nhiều những cấu hình tư tưởng đan xen, chồng chéo và thêm vào những ảo giác của thế giới “đời sống kỹ thuật số”. Hậu quả là quá trình “số hóa” đời sống con người xuất hiện và con người hoạt động theo sự điều hành của máy móc điện tử. Các sóng điện hỗn loạt trong bầu khí quyển với các tần số khác nhau để đến ma thời nay cũng không còn đất để hiện hình. Ở Anh, một tờ báo cho biết khi có điện thoại di động ra đời, thì các hiện tượng ma xuất hiện giảm hẳn (theo điều tra khoa học). Ở Nhật Bản và các nước giàu có, tỷ lệ người tự tử, tự kỷ, tâm thần khùng điên tăng lên gấp bội. Tất cả là vì sao vậy các con? Có phải đó là hậu quả tàn phá môi sinh, đầu độc sự sống bằng hóa chất và số hóa đời sống con người đã dẫn đến thảm họa kinh hoàng này. Con người thời nay dường như đang đùa giỡn với mạng sống của chính mình hơn là sống.
Mẹ giận mà thương, vì đã bao ngàn năm nay, con lạc đường đi tìm Cha. Con đã đi quá xa để khi nhớ tới Mẹ thì không còn biết lối tìm về, hoặc kiệt sức khi tìm về với Mẹ. Nhưng con có biết không: Mẹ vẫn luôn giang cánh tay bầm tím do các các hành động vô minh của con gây nên, để được đón con về trong hơi ấm tình Mẹ bao la. Một ngày như mọi ngày chúng ta đang sống trong tình thương ấm áp và sự bao dung của Mẹ trái đất và bài viết này như một sự ăn năn của đứa con Vô Danh thiết tha tình Mẹ.

















Chương 2
BÀI HỌC MỚI - BÀI HỌC NGHỊCH LÝ

Nghịch lý muôn thuở

Nói theo cách nói của khoa học thì cơ thể con người thật hoàn hảo, nhưng vì sao con người vẫn nhiễm bệnh và đặc biệt thường xuyên đau khổ về tinh thần, cho dù bạn có điều kiện sống vương giả như các vị hoàng đế. Nói theo cách của các tôn giáo thì con người sinh ra phải chịu đau khổ và “đời là bể khổ”. Triết lý ấy xem ra có thể thỏa mãn được một thực tế là: dù bạn là ai, thành đạt hay không thành đạt trong cuộc đời này, bên cạnh cái gọi là “thành công”, bạn vẫn có nỗi khổ tế nhị của riêng mình và nỗi đau khổ lớn nhất không thể vượt qua, cho dù bạn có là tỷ phú đô la chính là quy luật muôn đời, “sinh lão bệnh tử”, không trừ một ai. Đời là bể khổ nhưng có một nghịch lý là: ai cũng muốn sống, ngay cả khi bạn lâm phải hoàn cảnh cùng cực, bất khả kháng như bệnh tật không qua khỏi, chờ chết, thì bạn vẫn khát khao được sống dù chỉ là thời gian ngắn ngủi. Câu chuyện ngụ ngôn về một lão tiều phu khốn khổ, vì quá cay cực đã cầu xin được chết cho thoát khổ, nhưng khi Thần Chết vừa xuất hiện, ông ta lại cầu xin Thần Chết gánh đỡ bó củi và xin được tiếp tục sống, loài người chúng ta quên rồi sao? Phải chăng, chỉ khi thực sự đối mặt với cái chết, con người mới cảm nhận được đích thực giá trị của cuộc sống? điều may mắn nhất là chúng ta đã được Ngài ban cho đại hồng ân, được sống làm người, để cảm nhận và hiểu biết về sự sống, để đóng góp vào sự sinh động của đời sống muôn loài do Đấng Tạo Hóa sinh ra trên quả địa cầu này. Nói đời là bể khổ, phải chăng nhân loại đã ngầm oán trách Đấng Tạo Hóa cho được sống làm người? Chủ đề thể xác con người là trường học vĩ đại, có sẵn trong bạn như là một món quà giúp bạn hiểu được triết lý về nghịch lý cuộc đời.
Có hai dạng cấu hình tư tưởng chính đang dẫn dắt hành động của con người đó là: vô thần “có tiền mua tiên cũng được” và hữu thần “đời là bể khổ” trong đời sống của nhân loại. Từ thực tế đó, hiện có ba xu thế chính mà con người đang sống đó là (i) xu thế vô thần, sống là để thỏa mãn các nhu cầu vật chất để khỏe mạnh và sung sướng với phương châm sống được lúc nào thì ráng được sung sướng và xu thế này dẫn đến sự cá thể hóa sự sống, mình biết mình và cố gắng thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần có thể, dựa trên căn bản tích lũy vật chất làm cơ sở để “có tiền mua tiên cũng được”. Xu thế (ii) hữu thần tuyệt đối, giải thoát, thoát ly sự ràng buộc vật chất, buông bỏ sự phụ thuộc vào vật chất, buông bỏ sự ràng buộc với gia đình, cộng đồng xã hội để mình hoàn toàn tự do hướng tới sự thiêng liêng của đời sống, hướng về giáo chủ, Thượng Đế mà mình tôn thờ, cầu nguyện hay thiền định để sống với nội tâm, để có thể được sự cứu rỗi che chở của các Đấng Thần linh vô hình. Rồi từ hai xu thế chính đó xuất hiện một xu thế trung hòa, trung lập đó là (iii) dung hòa giữa vô thần và hữu thần, vẫn đối mặt với đời sống thường nhật để có “cơm áo gạo tiền” nhưng thờ phượng các vị giáo chủ, Thượng Đế theo cách chọn lựa của riêng mình với chủ tâm được an toàn, được che chở của Đấng Thần linh và sẵn sàng bỏ vật chất, tiền bạc vì mục đích tâm linh. Bài viết này quan tâm đến những nghịch lý trong đời sống và từ đó xây dựng tầm nhìn mới về ý nghĩa của thể xác đối với đời sống của con người (đời sống tâm linh) để giúp bạn có những cơ sở triết học căn bản liên quan đến đời sống tâm linh và ứng dụng tâm linh vào đời sống hợp với căn cơ của bạn. Bài viết này hoàn toàn mang tính trao đổi học thuật về tâm linh vì người viết luôn quan niệm rằng tâm linh là một khoa học vi diệu có từ thời thượng cổ, bị thất truyền và vì vậy, nó chỉ còn lưu giữ một phần trong đời sống tôn giáo. Thật sai lầm khi cho rằng học hỏi nghiên cứu và ứng dụng tâm linh chỉ có thể thực hiện thông qua tôn giáo. Tâm linh đích thực là một nhu cầu thiết yếu của đời sống con người và ứng dụng tâm linh vào đời sống là yếu tố không thể thiếu giúp cho con người không ngừng tiến hóa, văn minh và an lạc.

Sức khỏe và đời sống tâm linh

Trong đời sống hàng ngày, con người thường quan tâm đến sức khỏe thể xác, chăm sóc cho thân xác khỏe mạnh bằng các chế độ dinh dưỡng phù hợp và dùng thuốc để phòng và trị bệnh, đây là cách làm tự nhiên. Thể xác có mạnh khỏe, thì mới có cảm giác trung thực về đời sống. Tuy vậy, có một nguyên nhân sâu xa liên quan đến sức khỏe mà ít khi con người nghĩ đến đó là đời sống tinh thần, đời sống tâm linh lành mạnh, trong sáng. Điều này có liên quan đến “kỹ thuật” vệ sinh não bộ để bình ổn tâm lý. Vì phần lớn nhân loại hiện nay do quá phụ thuộc vào các phương tiện vật chất để sống nên ốm yếu về sức khỏe tinh thần. Thật vậy, cuộc tranh đua làm giàu đặng “có tiền mua tiên cũng được” đang bộc lộ những bế tắc khi mà chu kỳ trái đất hiện nay đang rơi vào những thay đổi khó lường và nhiều loại rủi ro đang xuất hiện như rủi ro thảm họa tự nhiên, rủi ro tài chính (càng giàu nguy cơ mất tài sản càng lớn), rủi ro hóa chất do các dạng hóa chất độc hại đang xuất hiện với mức quá ngưỡng cho phép nhiều lần ở mọi nơi trên hành tinh này. Mất niềm tin cuộc sống, có nguyên nhân sâu xa từ rủi ro tâm linh, ngày một thể hiện rõ ràng trong sự bất an tâm lý của từng con người, bất an đoàn chủng, tôn giáo dẫn đến những xung đột trên tầm mức quốc tế. Tất cả những sự mất an ninh đó đang gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe con người gây sự hoang mang lo ngại, bế tắc trong đời sống tinh thần và là nguyên nhân thứ phát làm suy yếu khả năng tự kháng bệnh của cơ thể. Ngoài những sự trợ giúp của y tế, thì bài thuốc trị căn nguyên gây bệnh của mỗi chúng ta, đó là bài thuốc tâm linh. Học hỏi và ứng dụng tâm linh để khai thác tiềm năng kháng bệnh của cơ thể. Với tinh thần học hỏi tâm linh để tự nhiên hóa đời sống tinh thần, để có tâm hồn trong sáng và đi kèm là sức khỏe tốt, để sống hạnh phúc và an bình.
Chức năng của các tế bào sống trong cơ thể là duy trì sự tồn tại của thể xác. Sự chung sống, hợp tác giữa các tế bào sống (khoảng 100 ngàn tỷ tế trong cơ thể con người, tập hợp thành thể xác vật lý con người) là một việc không dễ. Vì sao? Vì các tế bào sống nhóm lại thành các mô (giống như các thành viên trong cộng đồng), nào là mô gan, mô thận, mô thần kinh, mô tim và các mô này biệt hóa chức năng, mỗi mô một nhiệm vụ để duy trì chức năng sống của nó và toàn bộ cơ thể. Vị nhạc trưởng điều phối dàn nhạc sự sống thể xác là các mô thần kinh, là não bộ. Vệ sinh não bộ là việc quan trọng nhất, vì nếu vị “lãnh đạo” này trục trặc chức năng là các bộ phận hệ lụy khác sẽ “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” và sinh bệnh. Các thống kê y học cho thấy nếu não bộ ở trạng thái cân bằng, không trục trặc thì con người có thể tự thoát bệnh (miễn dịch) tới 75%. Người ta nói không sai là bạn sẽ là “bác sỹ” của chính mình. Để trở thành bác sỹ cho mình, bạn cần phải học hỏi tâm linh, hiểu biết về bản chất sự sống và để trả lời một câu hỏi đơn giản “bạn sống để làm gì?”. Học hỏi tâm linh là học hỏi về vai trò của khối năng lượng vi tế điều khiển đời sống tinh thần của bạn. Một đời sống tinh thần đủ mạnh và trong sáng là điều kiện cần và đủ để bạn trở thành bác sỹ của chính mình.
Đời sống tinh thần an lạc và tràn đầy xúc cảm thánh thiện có cấu hình (form) đặc biệt và có sức mạnh (power), sức mạnh vô hình, dời non lấp biển và được kiểm soát bởi những lực lượng tự nhiên vô hình. Học hỏi tâm linh là học hỏi triết lý về sự sống và vũ trụ, học hỏi các sức mạnh siêu nhiên kiểm soát vận hành không chỉ đời sống vũ trụ mà cả đời sống của mỗi chúng ta. Thật vậy, mỗi chúng ta đều có một thang giá trị tinh thần vô hình ẩn chứa trong ta, đó là lương tâm. Thành tố lương tâm trong cơ thể con người hoạt động vô hình, ngoài ý thức con người. Chỉ biết khi cần thiết, nó giúp ta thoát khỏi bệnh tật, nó cản ta sản sinh các ý nghĩ ác, nó an ủi vỗ về ta khi gặp hoạn nạn, nó làm cho ta mang bản chất tự nhiên của đời sống. Lương tâm chính là thành tố tự nhiên ẩn chứa trong mỗi con người. Học hỏi tâm linh là để nâng cánh cho thành tố tự nhiên này thăng hoa, tỏa sáng. Những người có đời sống tâm linh mạnh, có tâm hồn trong sáng thường ít bị bệnh và nếu bị bệnh cũng dễ qua khỏi. Vì sao vậy? Vì sức khỏe tinh thần là nền tảng cho các xu thế trao đổi chất tự nhiên, nâng cao khả năng kháng bệnh khi cơ thể gặp phải. Khi gặp phải bệnh hiểm nghèo, không phương thuốc nào cứu được, thì bạn dựa vào đâu để sống đây? Bạn sẽ phải dựa vào tiềm năng kháng bệnh của chính mình. Khi có sự hiểu biết đầy đủ về sự sống theo quan điểm khoa học tâm linh và trên nền tảng một niềm tin mãnh liệt vào chính mình, bạn sẽ là bác sỹ của chính mình để vượt qua những khó khăn thử thách, kể cả vượt qua cửa tử. Một đời sống tinh thần tự nhiên trong sáng là cách phòng bệnh từ xa tốt nhất không cần đến nhiều thuốc men để tránh phản ứng phụ (site effect), đó là lời khuyên của tác giả dành cho bạn đọc.
Đời sống tinh thần tự nhiên, an vui đồng nghĩa với gia tăng sức mạnh vô hình của niềm tin sự sống. Nhờ có niềm tin trên cơ sở hiểu biết đủ ngưỡng về sự sống, mà những giá trị tinh thần được thăng hoa tỏa sáng, bệnh tật được kiểm soát. Thật vậy, khi có một bệnh xuất hiện trong cộng đồng, con người thường hoảng sợ, né tránh cũng là tự nhiên. Nhưng vì chưa hiểu đầy đủ ý nghĩa triết học của bệnh tật nên nỗi lo sợ cứ còn đó. Chính sự lo sợ ấy đã như một vòng xoáy, làm cho hệ thống miễn dịch của cơ thể yếu đi và bạn dễ mắc bệnh hơn, đó là kết luận của khoa học. Vậy ý nghĩa của bệnh tật là gì? Bệnh tật, vi trùng, vi rút gây bệnh luôn đồng hành với đời sống con người từ khi con người còn ở trong lòng mẹ đến khi giã từ cõi đời. Nhờ có các loại vi trùng mà cơ thể con người, hệ thống miễn dịch của con người, luôn ở trạng thái “thức” để tạo ra sự miễn dịch, bảo vệ sự sống con người. Con người, ai cũng như ai, thường mang trong cơ thể mình vi trùng đủ loại, nhưng không dễ phát bệnh vì số lượng vi trùng ấy dưới ngưỡng gây bệnh. Yếu tố đảm bảo sự cân bằng dưới ngưỡng ấy, do hệ thống miễn dịch kiểm soát và có liên quan vô cùng chặt chẽ với hệ thống thần kinh, yếu tố tinh thần của con người. Những khi lo sợ thái quá, hay bị khủng khoảng tinh thần chính là thời cơ tốt nhất để vi trùng gia tăng số lượng, đạt ngưỡng phát bệnh. Thực tế, trong nhiều trường hợp, mặc dù có vi trùng trong cơ thể, nhưng bệnh tật không phát vì nó không có đường dẫn để phát triển. Đường dẫn đó là gì? Là sự thiếu hiểu biết về ý nghĩa của bệnh tật trong đời sống và từ đó chưa đưa ra được cách phòng ngừa thích hợp với bệnh tật.
Câu chuyện về vai trò của núi lửa đối với sự sống của trái đất cũng tương tự như vậy, Núi lửa là nguyên liệu khởi nguồn cho sự sống muôn loài mà có thể bạn chưa biết. Nếu ai cũng nghĩ là núi lửa có hại và ai cũng sợ núi lửa thì thật là vô minh. Vì sao? Cách đây 700 triệu năm vào thời kỳ Băng hà, nhiệt độ trái đất trung bình khoảng âm 50 0C, sự sống của muôn loài trên quả địa cầu này có nguy cơ tàn lụi trong băng giá. Nhưng rồi sau đó, khoảng 650 triệu năm trước, nhờ khối lửa hừng hực trong lòng Mẹ trái đất phun trào, thời kỳ núi lửa hoạt động dữ dội nhất trong lịch sử và thải ra bầu khí quyển một lượng lớn khí các-bô-níc Co2, và chính nhờ khí “độc hại” này, mà nó giữ năng lượng từ mặt trời, làm ấm bầu khí quyển để cứu trái đất chúng ta khỏi nạn Băng hà vĩnh viễn. Sau đó là thời kỳ băng tan, trái đất nóng dần từ thái cực âm 50 0C sang thái cực dương 50 0c, mưa gió, bão lụt xảy ra khủng khiếp. Rồi sau đó, khí hậu dần ổn định, muôn loài phát triển rực rỡ, đưa sự sống trên trái đất trở lại một thời kỳ phát triển và tiến hóa mới. Nạn Hồng Thủy chính là cái ý này. Nhưng với tầm nhìn mới tạm gọi là tầm nhìn nghịch lý, thì sự sống của muôn loài trên thế gian này gắn liền với sự hoạt động của núi lửa và nếu không có núi lửa hoạt động vào thuở ấy thì liệu có bạn và tôi ngày hôm nay? Cái gọi là nạn Hồng Thủy thuở ấy chính là cái nghich lý ở tầm mức vĩ mô đã cứu sự sống trái đất và thiết lập một trật tự mới của đời sống muôn loài như ngày nay. Loài người và muôn loài phải “đội ơn” núi lửa thuở ấy chứ! Chúng ta quên rồi sao? Học hỏi tâm linh là học hỏi những tri thức loại này và như vậy mới thoát được cái bẫy “mê tín dị đoan”. Động đất, núi lửa, sóng thần, dịch bệnh và những thảm họa khác đều có ý nghĩa của nó và trong dòng tư duy ấy, bạn đọc sẽ được cập nhật những tri thức như vậy bằng nhiều cách từ các phương tiện và hình thức khác nhau media resources nếu bạn muốn và sẵn sàng học hỏi. Hiện nay, nhiều bạn đọc lo sợ không biết sự thay đổi khí hậu toàn cầu như hiện nay sẽ dẫn đến kết cục gì đây cho đời sống muôn loài và sự sống của chính chúng ta. Xin tiếp tục học bài học nghịch lý và tự bạn sẽ có câu trả lời.

Học nghịch lý

Phần lớn nhân loại xưa và nay, thường coi mình (sự hiểu biết của cá nhân) như là một chuẩn mực, khung giá trị cá nhân, được học được từ xã hội và từ đây nhìn nhận, đánh giá sự vật sự việc, đó là thói quen tư duy đã dẫn đến những sai lầm không đáng có. Vì vậy, con người thường chỉ chấp nhận những điều hợp với mình, thỏa mãn được khung giá trị của mình. Con người chỉ học hỏi những cái mà mình muốn, điều này là tự nhiên. Nhưng đời người ngắn ngủi “người ta hoa đất, chưa nở đã tàn”, cuộc đời đặt ra có bao điều cần học và câu hỏi đặt ra là bắt đầu học từ đâu? Từ cái gì đây?. Xin hãy học từ những điều trái với ý muốn của bạn, luôn hiện hữu và thường xuyên đồng hành với đời sống của bạn. Nói một cách tâm linh hơn, thì chính những bài học nghịch lý xuất hiện hàng ngày trong đời sống của bạn, bạn không thích nó, lại là “Thiên ý” gợi ý cho bạn con đường học ngắn nhất để bạn tiến hóa mà bạn không biết. Cho rằng bạn là một người thông minh, chỉ số IQ vượt trội đi, thì bạn cũng không thể học hết được những bài học cuộc đời, vô cùng sinh động và thường xuyên thay đổi với ý nghĩa cập nhật những điều vi tế, thú vị của cuộc đời, thiên nhiên, vũ trụ. Bể kiến thức vũ trụ mênh mông, khôn cùng là có thật (sẽ nói cơ chế hình thành ở phần sau) và nhu cầu học của một đời người chỉ là một giọt nước trong cái bể vĩ đại này của càn khôn.
Trong thực tế đời sống, con người thường từ chối với những nghịch lý cũng là tự nhiên. Nhưng không thể từ chối được tất cả. Bạn nghĩ sao khi những người vô tội bị chết bom trên đường phố hay chết thảm thương vì các tai họa tự nhiên như động đất, sóng thần và biết đâu một ngày nào đó bạn cũng gặp những tai họa, những nghịch lý này. Phải học thôi bạn a! Có học được bài học nghịch lý, cùng “đồng hành” và thích nghi với nó, chúng ta mới đặng được an toàn và vô hại. Nếu bạn biết học từ những “nghịch lý” thì bạn sẽ có trong tay cơ hội tiến hóa rất nhanh và nó sẽ mang lại cho bạn một đời sống hạnh phúc an lạc, thấm đượm chất tự nhiên vốn có của sự sống.
Phương pháp học thuận lý được loài người áp dụng trong mọi ngành nghề và điều này đã mang lại những thành quả rất đáng ghi nhận. Với phương châm cái gì mang lại lợi ích vật chất, mang lại những giá trị tinh thần thì học và áp dụng, điều đó là tự nhiên. Tuy vậy, phương pháp này rất dễ lâm phải nguy cơ giáo điều và giảm đi tính sáng tạo của con người. Vì sao? Vì tưởng rằng nền văn minh vật chất này là tất cả, nhưng không và chính nó đã dẫn tới những thảm họa môi trường mà cả triệu năm sau chắc gì đã khôi phục lại được trạng thái sạch, tự nhiên ban đầu của nó. Thật đáng khâm phục cho những công nghệ còn trên cả ma thuật như công nghệ nano, công nghệ siêu vi tế, ứng dụng trong công nghiệp gọi là “công nghệ siêu cao” ứng dụng trong thông tin và tự động hóa và nhiều ngành nghề khác. Công nghệ tế bào, nuôi tế bào gốc (stem cell) trong ống nghiệm để thay tạng hư của bệnh nhân. Công nghệ vật liệu để tạo cái thang siêu nhẹ và bền, để nối trái đất với vũ trụ (dự án mới này sẽ được khởi nay mai dưới sự tài trợ của Nhật Bản và nhiều nước khác) để khai thác tài nguyên ngoài vũ trụ và chuyển các tài nguyên vũ trụ như tài nguyên ở mặt trăng và các hành tinh khác về trái đất với chi phí thấp so với chi phí dùng tàu vũ trụ vận chuyển. Rồi bạn sẽ thấy mặt trái của các thành tựu này, sau khi nó đưa vào ứng dụng, có thể phương hại đến chính sự sống của con người.
Trở lại khái niệm học tập, vì các ngành nghề trong xã hội đã phát triển đến những đỉnh cao, đời người thì ngắn ngủi, học cho xong một ngành nghề để tạm gọi là thạo nghề mất khoảng 1/3 cuộc đời. Ra đời, dùng nghề để kiếm kế sinh nhai, tồn tại và khi luống tuổi, giật mình tự hỏi “mình sống để làm gì nhỉ?” rồi cô đơn, đối mặt với bệnh tật và với cái chết. Khái niệm sống để học hỏi và tiến hóa, thăng hoa những giá trị tinh thần dường như không mang lại lợi lộc vật chất, nhưng nó đích thực là tối cần thiết đối với sự sống của mỗi con người chúng ta. Vì sao? Vì vật chất chỉ là phương tiện để sống và học hỏi. Nếu quá chú tâm vào làm giàu mà làm giàu đâu có dễ, thì khó có cơ hội để thoát ra khỏi sự chú tâm đó, để học những điều minh triết trong đời sống. Đối với những người giàu, họ có nhiều phương tiện vật chất nhưng đâu có dễ an nhiên vì phương tiện không biết học và chỉ chủ của phương tiện mới cần phải học. Giàu mà không sang, giàu mà đói khát tình thương, giàu mà mất an ninh tâm linh thì cần cân nhắc lại. Suy rộng ra, cuộc đời không phải là bể khổ như người đời thường nói, mà cuộc đời là một bể học, học mãi không nguôi. Khổ là do ngại học hoặc chưa biết học.
Phương pháp học nghịch lý dường như thỏa mãn được cả hai mục đích trong đời sống con người “học để tồn tại, để kiếm kế sinh nhai” vì lợi ích trước mắt (short term benefit ) và “học để thích nghi” vì lợi ích lâu dài (long term running), thích nghi (adaptation) và tiến hóa (evolution) Vì sao? Vì các phát minh sáng tạo, kỹ thuật mới, công nghệ mới ra đời đều xuất phát từ những điểm yếu, bất lợi, lạc hậu (nghịch lý) của các phát minh trước đó, công nghệ cũ và đích thực học từ nghịch lý là cơ sở để sáng tạo. Các thống kê của nhân loại về những phát minh đều xuất phát từ những “ngoại lệ” hay nghịch lý với kiến thức loài người khi phát minh đó ra đời. Trong đời sống tâm linh cũng vậy, phần đa các vị triết gia, giáo chủ đều có gốc từ một triết học hay một đạo giáo nào đó (cũ), nhờ biết học từ những nghịch lý, cái sai khởi nguyên, mà các Ngài đã tìm ra cái mới nhanh nhất để thoát khỏi sự ràng buộc “giáo điều” làm mất sự tự do sáng tạo của các Ngài. Từ đó các học thuyết mới, các triết học và tôn giáo mới ra đời. Lịch sử triết học, khoa học và tôn giáo đã ghi nhận điều này. Những người sáng tạo đích thực là những người “phản bội” cái nôi khởi đầu của họ, thế mới là nghịch lý cần học. Thực ra đó là sự kế thừa sáng tạo. Tỷ lệ nhân loại biết học kiểu nghịch lý rất thấp, nhưng nhờ sự tỏa sáng vô hình của các kiến thức minh triết từ những cá nhân xuất chúng đã ảnh hưởng đến xã hội. Đặc biệt những sáng tạo của những người “vô danh”, thì sự hiểu biết của họ còn được lưu giữ tự động vô hình vào bể kiến thức tự nhiên của vũ trụ. Hãy đừng lo, sao một ý nghĩ thánh thiện của mình, một đóng góp thiện lương của mình, một sáng tạo của mình không được đăng tải, không được mọi người biết đến. Đã có “nhà xuất bản vô hình tự nhiên” đăng tải, nhập vào kho lưu trữ vĩ đại, bể kiến thức vĩ đại của nhân loại, của vũ trụ. Vào một lúc nào đó khi nhân loại cần đến, tiềm năng con người được khai mở, sẽ có những người có khả năng nhận kết nối (connection) với bể kiến thức vũ trụ, dưới dạng sự phát tiết, những cảm nhận vi tế, sự sáng tạo dạng “thần đồng” để in ấn trong các nhà xuất bản ba chiều, bằng chữ viết, bằng lời nói để nhân loại ứng dụng. Cơ chế của sự hình thành bể kiến thức vũ trụ chính là điều đơn giản này. Càng vô danh và hành động vô danh vì mọi người một cách vô điều kiện, càng được “nhà xuất bản vô hình” tiếp nhận sự sáng tạo của bạn. Đây chính là chìa khóa diệu kỳ cho bạn để bạn thực hiện vô danh triệt để. Xin tiết lộ thêm ý tứ này để mọi người cùng suy ngẫm, những người có những khả năng tâm linh đặc biệt, nhưng vì xưng danh xưng tánh, nên các khả năng đặc biệt ấy thường chỉ duy trì một thời gian ngắn và sau đó là một sự khủng khoảng tâm linh. Vô danh đồng nghĩa với sự bền vững của những khả năng đặc biệt.
Không ai trong giới triết học lại không biết đến hai học thuyết vĩ đại của nhân loại, đó là “học thuyết tuyệt đối” và “học thuyết tương đối”. Ở một khía cạnh tế nhị thì cả hai học thuyết này cũng chỉ là sự vòng vo, nếu không nói là cố chấp. Vì sao? Vì cái đích cuối cùng đều tìm đến kết quả và biện minh cho kết quả đạt được. Một kết quả chịu ảnh hưởng bởi nhiều nguyên nhân và một kết quả mới sinh ra có khi lại phủ định nguyên nhân sinh ra nó. Và chính kết quả đó, lại là hệ lụy của nhiều kết quả tiếp theo. Nếu bỏ phần suy xét kết quả thì hai học thuyết lừng danh đó đâu có đố kỵ như lửa và nước và nó đích thực là hai bộ phận tương hợp của quá trình nhận thức của nhân loại về sự sống và đời sống vũ trụ xét theo một khía cạnh nào đó. Nói dễ hiểu hiểu hơn, những nghịch lý của thuyết tuyệt đối lại tìm và thấy lời giải trong thuyết tương đối và ngược lại. Quả đất này tĩnh hay động đây? Rõ ràng là động, là biến đổi là tương đối rồi. Nhưng với tầm nhìn “đại càn khôn, vô cùng vô tận” thì kích thước của trái đất trở thành một điểm, không có kích thước, vậy còn đâu khái niệm tĩnh và động nữa. Người biết học từ nghịch lý luôn tìm thấy cái mới, vì ngay sau khi tìm thấy cái mới, họ đã thấy nó bất cập (out of date) hay nói dễ hiểu hơn là họ sớm thấy được cái nghịch lý tiềm ẩn và cái mới khác lại ra đời nhờ giải phóng năng lượng thời gian tự do trong quá trình sáng tạo của não bộ. Học từ những bế tắc, đau khổ của chính mình, những suy nghĩ ác của chính mình là cách học nhanh nhất để tiến hóa, để tiềm năng con người khơi dậy sự sáng tạo, để hạnh phúc ngập tràn trong sự an lạc đến vô cùng. Đó đích thực là biết học và biết học từ nghịch lý sẽ sớm đạt tới minh triết.

Sáng tạo và đại lượng thời gian

Con người có ba nhu cầu cơ bản đó là sống để thỏa mãn (i) nhu cầu sinh học cơ bản, ăn uống, sức khỏe, có các cơ sở vật chất tối thiểu để sống và “sinh con đẻ cái” (ii) nhu cầu phục vụ xã hội, để có cái danh, là ông nọ bà kia, để mình có vai trò trong xã hội (iii) nhu cầu sáng tạo, dường như không có mục đích, nếu có thì chỉ nhằm cho sự thăng hoa, tỏa sáng những tiềm năng vô hình, ẩn chứa trong con người với những khía cạch khác nhau, chủ đề khác nhau, muôn hình vạn trạng. Đó là tổng kết khoa học của ngành tâm lý học.
Sáng tạo là sự hợp thì, hợp thức với đại lượng thời gian. Sự sống của muôn loài và con người trên thế gian này, cõi ba chiều này, tạm gọi như vậy, thì chịu sự điều khiển của quy luật thời gian, đại lượng thời gian. Sáng tạo của bộ não con người là hiện tượng giải phóng năng lượng tự do hàm chứa vô hình trong não bộ và tạm gọi là giải phóng năng lượng thời gian tự do. Vì vậy ai cũng biết, người ta chỉ sáng tạo dù việc nhỏ đến việc lớn khi não bộ của họ ở trạng thái hoàn toàn tự do. Năng lực sáng tạo là thuộc về phạm trù triết học thời gian, đây là điểm mới khó vượt qua đối với tư duy truyền thống.
Xin bắt đầu với câu chuyện dòng sông, con thuyền và người lái đò. Dòng sông ví là đại lượng thời gian, con thuyền trôi trên sông là thể xác con người và người lái đò là thành tố tự nhiên (hay linh hồn). Mối quan hệ giữa dòng sông, con thuyền và người lái đò thật sinh động. Có một người lái đò (thành tố tự nhiên) nương vào con thuyền (thể xác) trôi theo dòng sông (dòng thời gian) để ra biển cả (cảnh giới niết bàn). Dòng sông khi đầy khi vơi, tốc độ dòng nước chảy quy định tốc độ của con thuyền trôi trên sông nhanh hay chậm. Năng lượng thời gian vi tế ẩn chứa trong vật thể và tùy thuộc vào cấu trúc không gian của vật thể mà nó “trôi” hay giải phóng năng lượng nhanh hay chậm, nhiều hay ít hoặc ngừng “trôi”. Và mối quan hệ giữa thời gian (dòng sông) và thể xác (con đò) là mối quan hệ hợp thì, đồng biến. Con đò thể xác hoàn toàn đồng hành với quy luật thời gian. Trẻ hay già là phụ thuộc vào thời gian vào năng lượng thời gian ẩn chứa trong thể xác và cách vận hành vi tế của năng lượng thời gian trong thể xác. Theo dòng sông thời gian, người lái đò quan sát những sự kiện diễn ra trên sông và đôi bờ, từ đó học được bao điều thú vị (cách học học thuận lý truyền thống để tiến hóa).Vì con đò trôi xuôi theo dòng chảy thời gian (thuận lý, học cái tốt), nên người lái đò không mất sức chèo đò, chỉ điều khiển con đò đi đúng hướng về phía biển cả. Học thuận lý là cách học truyền thống, học nhờ học gửi, từ kiến thức và kinh nghiệm của người khác, nên mọi người ưu thích và cái đích là biển cả (niết bàn) cũng đã có sẵn, được các định hướng do những cá nhân kiệt xuất, các minh sư, các giáo chủ chỉ cho biết trước. Mong đợi, kỳ vọng ra tới biển khơi (thoát khỏi sự chi phối của đại lượng thời gian) sẽ còn được chứng kiến những điều kỳ diệu hơn. Nhưng thật nghịch cảnh, khi thoát khỏi dòng sông thời gian (tạm gọi là ngộ), con đò lênh đênh ngoài biển cả, không biết đi đâu về đâu (thể xác trở thành cát bụi, nguyên liệu cho cấu tạo vũ trụ), vì nơi xa khơi ấy chỉ toàn là nước, gió và sóng cả. Người lái đò kia (sau khi chết linh hồn vẫn tồn tại) cảm thấy cô đơn đến tận cùng và lại nhớ về dòng sông thời gian có đôi bờ xinh đẹp. Xu thế chung là các linh hồn sau khi chết là muốn đầu thai tái kiếp lại để tiếp tục học hỏi tiến hóa. Đoạn đầu câu chuyện này, muốn nói về những khát vọng siêu thoát khỏi đời sống trần gian (đời sống chịu sự chi phối của đại lượng thời gian) của những ai đã và đang học hỏi tiến hóa trong cách học thuận lý, học cách tiếp cận với chân lý theo cách tư duy truyền thống. Nếu coi việc vượt dòng sông thời gian để đến với biển cả là “quá trình ngộ” là đến với cảnh giới niết bàn hay thiên đàng, thì ở đó không có gì ngoài những thành tố tự nhiên, “kho nguyên liệu” để cấu tạo vũ trụ và sự sống muôn loài. Người lái đò kia quyết định quay thuyền trở lại với dòng sông thời gian để được sống với cuộc sống trần gian (linh hồn được toại nguyện tái kiếp tái trở lại để học hỏi ở cảnh giới trần gian). Được tái kiếp làm người lần này, người lái đò (linh hồn tái kiếp) phải vật lộn với sóng to, bão lớn tìm về dòng sông tuổi thơ năm nào, lần này người lái đò phải đi ngược dòng sông (học nghịch lý), người lái đò mới hiểu ra một điều đơn giản là nhờ đi ngược dòng sông nên mới cần nhiều sự sáng tạo. Vất vả nhọc nhằn đấy, nhưng ăn ngon, ngủ yên. Vì chú tâm vào việc ngược dòng sông, nên những sự kiện sinh động (những cám dỗ) diễn ra trên sông và ở đôi bờ cũng không còn có ý nghĩa lớn (thoát khỏi sự ràng buộc của vật chất và chỉ coi nó là phương tiện duy trì thể xác). Chỉ còn có con đò và người lái đò vượt bao ghềnh thác để về với miền quê hương thôn dã thuở nào, nghèo hèn mà nồng thắm mùi rạ lúa được nắng và tắm trong hương đồng gió nội. Tìm về cội nguồn nơi trần gian có sự sống, có con người để tìm ra ý nghĩa của thể xác (con đò) và hiểu được đại lượng thời gian chi phối sự sống cũng co dãn như hơi thở của đất trời. Quả thật khi xuôi dòng, tạm gọi là thời gian giãn, người lái đò dường như không nhận ra sức mạnh, năng lượng khủng khiếp của nước. Có được dòng nước trôi để đẩy con đò đi, là kết quả của sự vận hành chuyển hóa của nước theo quy luật tuần hoàn vĩ đại của tự nhiên. Hay đấy, thú vị đấy, nhưng vẫn là sống gửi ăn nhờ vì các nghịch của nước lý, năng lượng thời gian hàm chứa vô hình trong nước vẫn chưa học được. Khi ngược dòng, thời dãn co tạm gọi như vậy, người lái đò kia mới hiểu ra rằng dòng sông thời gian kia hàm chứa sức mạnh to lớn đến nhường nào. Có ngược dòng, học nghịch lý người lái đò mới có cảm nhận thật về tự nhiên, về sức mạnh tự nhiên, về khả năng tiềm ẩn của con người để khám phá tự nhiên và sự sống động, vi tế của sự sống mà Đấng Tạo Hóa đã ban cho muôn loài. Hai đại lượng thời gian và không gian là hai “vật liệu càn khôn” vi tế nhất, mà Đấng Sáng Tạo dùng để vận hành vũ trụ và sự sống. Bạn đọc thân mến, dường như những thay đổi của chu kỳ trái đất lần này ví như con đò ngược dòng sông ở phần hai của câu chuyện này, để mỗi chúng ta ngược dòng thời gian về với “quá khứ” cách đây hàng triệu năm, tạm gọi như vậy, để thực hiện một sự thay đổi và tiến hóa mới của hành tinh xanh và sự sống muôn loài. Bạn đã sẵn sàng vượt dòng chưa? Và bạn chuẩn bị hành trang như thế nào cho cuộc Đại tạo lần này? Điều ấy phụ thuộc vào bạn.
Đại lượng thời gian luôn co dãn, lúc này thời gian đang co, năng lượng tự do của đại lượng vô hình này đang giải phóng, tạo ra hoàn cảnh mới và thay đổi, xét theo bình diện vĩ mô của trái đất và vũ trụ. Bạn thấy đó, biết bao sự kiện nào là băng tan, mực nước biển dâng, động đất sóng thần, bão tố (siêu bão), hạn hán, dịch bệnh đã và sẽ còn xảy ra. Và thế giới, nhân loại đang phải đối mặt với những đe dọa này. Phải học, học nghịch lý để hiểu vì sao lại có những thay đổi này và cái chìa khóa để trả lời là tìm ra ý nghĩa của các nghịch lý. Thật vậy, nhiều người hỏi tôi vì sao lúc này thấy cái gì cũng dở, nhiều cái ác xuất hiện, vì lợi nhuận người ta vẫn “tự tin” đưa chất độc melanine vào sữa để bán. Đầu tư làm ăn thì rủi ro kinh tế, ô nhiễm môi trường lên đến cấp báo động nguy hiểm, ở một số vùng nhạy cảm bom cảm tử có thể sảy ra bất kỳ lúc nào kể cả những nơi được canh phòng cẩn mật. Ở đâu cũng thấy bất an, rủi ro với thảm họa tự nhiên vì một cú va chạm của thiên thạch, “hạt bụi vũ trụ” kiểu thời Khổng long thì rồi sẽ ra sao. Chúng ta chưa hiểu được Đấng Sáng tạo là bao, khi mà chưa biết học nghịch lý để tìm ra ý nghĩa của các nghịch lý trong vũ trụ, trái đất và sự sống muôn loài. Loài người sai lầm hay sao, khi trở thành thế lực, lực lượng làm thay đổi thế giới theo con đường phát triển nền văn minh vật chất. Chưa hẳn như vậy, vì bản thân con người cũng là thành tố của tự nhiên. Sự thái quá trong phát triển công nghiệp, mà nói ngắn gọn lại là giải phóng năng lượng thời gian vi tế trong dầu mỏ để phát triển kinh tế (khoảng 200 năm gần đây) phải chăng đang được chi phối bởi “lực lượng đen” nào đó thuộc về bản chất của vũ trụ. Học nghịch lý là học cái “đen” tạm gọi như vậy, để dùng cái đen, cái dở, cái ác làm nguyên liệu cho sáng tạo, cho sự hài hòa tự nhiên. Dựa vào cái khung giá trị đúng sai, thiện ác để suy xét để hành động, thì rồi lại đi từ thái cực này sang thái cực khác, như câu chuyện “con kiến mà leo cành đa, leo phải cành cụt leo ra leo vào” thì cần được xem lại. Đứng trên bình diện đúng sai mà nhìn nhận sự vật sự việc đặng có giải pháp thỏa đáng để lập lại cân bằng tự nhiên trong đời sống muôn loài mới là điều cần bàn trong tình thế hiện nạy
Thế giới vật chất ba chiều hoàn toàn phụ thuộc vào năng lượng thời gian. Khi bạn thấy thời gian trôi nhanh là lúc bạn chú tâm vào những công việc mang tính sáng tạo. Khi bạn thấy thời gian trôi chậm, ấy là lúc bạn có cảm giác buồn chán, cô đơn vì não bộ bạn đang làm việc thiếu sự sáng tạo. Năng lượng thời gian vô hình ẩn chứa trong bạn không được giải phóng, ứ đọng và gây cho bạn sự thiếu vắng cái mới, nhàm chán vì thiếu sự sáng tạo. Các quy luật thời gian ở các cảnh giới khác, không gian tâm linh khác, chưa ai biết được một cách cụ thể và nếu có, thì chỉ là những mô tả “mờ mờ ảo ảo” “thực thực hư hư” của một số nhà tâm linh, như thế giới “người âm”, điều đó cũng là những “nghịch lý” cần được nghiên cứu. Nghịch lý, phản đề là cách học hỏi tâm linh thời nay, là học hỏi về năng lượng vi tế thời gian chi phối sự sống muôn loài và vũ trụ. Cũng có thể chia ra hai loại chính là: tâm linh bác học hay tâm linh lý thuyết và tâm linh ứng dụng vào đời sống. Tâm linh bác học dành cho các nhà nghiên cứu, còn tâm linh ứng dụng dành cho công chúng. Vì sao tác giả bản viết này, khi viết lại thể hiện tính phân biệt trong tư duy? Vì đầu óc phân biệt là công cụ để học hỏi tiến hóa, nó hoàn toàn chỉ là phương tiện để tìm đường đi tới sự đồng thuận và hòa hợp với nghịch lý, coi nghịch lý là vốn sống để tiến hóa, coi nghịch lý là bạn.

Vốn sống nghịch lý

Sự hiện hữu của sự vật, sự việc ở không gian ba chiều là tương phản, điều này xảy ra ở mọi khái cạnh sống. Những sự vật, sự việc trái với ý muốn của bạn, nên được hiểu đó là bài tập khó nhưng giá trị. Ngay cả cơ thể bạn, nhiều khi nó cũng bất tuân bạn, bạn muốn khỏe để hoàn thành công việc, công trình sắp hết hạn, thì nó lại sinh bệnh, tất cả những nghịch lý diễn ra trong đời sống thường nhật là những bài tập quý giá, bài học nghịch lý là cách bạn học hỏi hiệu quả nhất. Phải chăng nỗi đau khổ trong tâm hồn bạn, con bệnh hiểm nghèo nào đó đang đe dọa sự sống của bạn, lại là vốn nghịch lý sống siêu đẳng để bạn “phải tìm” lời giải. Ngài Tự nhiên cũng hay lắm đó, Ngài “ép” ta học, ngoài ra không có ý tứ nào hết, để ta giàu có tâm linh mà sống với hiện tại vĩnh hằng. Sao hiện tại lại là vĩnh hằng? vì hiện tại mới là thực, quá khứ chỉ là ảo ảnh, tương lai chỉ là mong đợi. Khi còn làm người ở trần gian ba chiều này thì còn được chi phối bởi quy luật thời gian. Vạn vật chỉ trong hiện tại mới mang năng lượng thời gian tự do. Chết là hết sao? Chết là sự khởi đầu của một hiện tại mới. Hiện tại đó là gì? Nói ra cái mong đợi tương lai (sau khi chết) liệu bạn đã sẵn sàng nghe chưa. Hãy quý lấy từng giây khi bạn còn được sống làm người, thì mới tự hiểu được vì sao đời sống tâm linh lại cần cho sự sống của bạn. Khi học xong bài học nghịch lý, nghịch lý đó trở thành thân quen, hài hòa với bạn và bạn tiến hóa. Tiến hóa được hiểu và đo dung dị là như vậy. Vì không chấp nhận học từ các nghịch lý của cuộc đời nên đã phụ thuộc vào những cái “khung giá trị” định sẵn và có khi đã làm cho con người tách ra khỏi tổng thể, cộng đoàn, xa rời sự hiện hữu luôn thân thuộc và gắn bó với sự sống của sinh thể bạn. Bài viết này muốn trao đổi, chia sẻ cùng bạn về những cơ chế tự nhiên kiểm soát quá trình sống và đặc biệt quá trình học hỏi tiến hóa của mỗi sinh thể. Người viết bản viết này quan điểm rất đơn giản “sống là để học hỏi tiến hóa” và học hỏi là một quá trình liên tục không chỉ một đời, một kiếp người, mà là sự kế tiếp liên tục của một chuỗi sống vi tế, sinh động, đầy thách đố, nhưng vô cùng hứng khởi. Đời sống của một con người chỉ là một mắt xích trong chuỗi sống ấy. Có kiếp sau hay không thì chưa biết, nhưng chắc chắn vốn liếng học hỏi tiến hóa của một kiếp người sẽ được ghi lại bằng những sóng điện đặc biệt vi tế lưu trữ trong “tri thức nhân loại” “tri thức vũ trụ” tạm gọi như vậy. Sự bền vững của những sóng điện vi tế này, tùy thuộc vào sự thuần khiết của tư tưởng con người, nếu nó là tư tưởng “vì mọi người” “sống hài hòa với tự nhiên” thì nó sẽ được lưu giữ mãi trong “bể kiến thức vũ trụ”. Niềm tin ấy là mạch dẫn cho những trang viết này. Chính sự bất an về niềm tin đã làm cho nhân loại và chính tác giả bỏ lỡ cơ hội tốt hơn để học hỏi tiến hóa. Học hỏi như một công cụ hỗ trợ để xây dựng niềm tin về một tương lai sống với tình thương đầy đủ, hài hòa với muôn loài vạn vật trên thế gian, hành tinh xanh mến yêu của chúng ta. Tuy vậy, việc sử dụng những kiến thức, hiểu biết về khoa học và triết học vẫn được sử dụng và xin bạn đọc hiểu cho là: nó chỉ là công cụ ngôn ngữ để diễn đạt bằng lời những hiểu biết và sự tiếp cận bản chất của sự sống mà thôi. Những quy luật tự nhiên ẩn chứa vô hình đằng sau những diễn giải bằng lời, hàm chứa những nghịch lý và mỗi chúng ta phải tự tìm, tự học, tự hành động để học hỏi tiến hóa nhanh hơn để đồng pha với chu kỳ biến đổi lần này và Mẹ Trái Đất đang hững hờ trước một quyết định khó tin.

Vệ sinh não bộ

Cổ nhân xưa để lại sáu chữ “người ta tâm viên ý mã” để nhắc nhở hậu duệ của các Ngài về bản chất cố hữu của con người, nên được hiểu như thế nào? Ý nói con người như một bộ máy nhận và đáp ứng các thông tin từ môi trường, thông tin ấy tác động vào cơ thể giống như cách đáp ứng phản xạ của con khỉ (viên), con ngựa (mã), luôn hành động không ngơi nghỉ cho sự sinh tồn. Đó là mô hình sống tự nhiên quy định đời sống của con ngựa con khỉ. Con ngựa và con khỉ có biết học không? Có chứ, nhưng nó chỉ học để tồn tại sự sống với mục đích rất đơn giản là đói ăn, khát uống, nên nó vô tư lự. Con người quan sát thấy nó hành động và thay đổi các hành động liên tục và cho rằng hoạt động đi lang thang vô định của nó là vô nghĩa, thì con người đã quên rằng: cái vô nghĩa ấy lại có ý nghĩa với chính đời sống của chúng (cần phải nghiên cứu để hiểu bản chất). Nếu lấy khung giá trị của mình mà xem xét, đánh giá sự vật sẽ không khỏi mắc phải sai lầm. Đó là lời khuyên của tác giả dành cho các nhà khoa học trong mọi ngành nghề trong xã hội. Con người an nhiên tự tại hay hai loài vật thấp cấp hơn con người kia, đang yên bình mà sống hồn nhiên với cỏ hoa. Suy rộng ra thế giới tư duy, thế giới của các cấu hình tư tưởng đang từng giây từng phút tác động vào não bộ của con người và làm cho con người tương tư, suy ngẫm, lựa lọc để tìm ra những giá trị thực của đời sống, đời sống tự nhiên.
Thế giới tư duy vô hình kia cũng có mặt trái của nó là: làm cho con người luôn phải cân nhắc khi hành động và thậm chí làm cho người ta phải hao mòn sức lực và bế tắc trong tư tưởng. Biết một mà không biết hai và biết mấy cho đủ đây, khi môi trường học hỏi vô hình, thế giới của nghĩ suy cứ len lỏi vào trong não bộ ta, “quấy rối” và không cho ta có thời gian yên tĩnh. Sự bình yên của não bộ là điều kiện cần và đủ cho sức khỏe và sự thái quá trong thế giới tư duy, suy nghĩ, nặng hơn là lo lắng đủ thứ đã là nguyên phát của đủ thứ bệnh tật. Vệ sinh não bộ là chiến lược cần bàn để tăng cường sức khỏe của con người và cộng đồng. Trở về với con số zero phải chăng là loại bỏ các thông tin rác cập nhật vào thế giới tư duy của mỗi chúng ta. Thế nào là thông tin rác? Đó là những câu chuyện tầm phào của đời sống, nào là hôm nay giá cổ phiếu giảm, hay là chuyện giật gân của mấy tờ báo về hối lộ, loạn luân. Rồi đến chuyện ông bạn già hôm nay gặp mình không vui hay là mình có chuyện gì với ông ấy (ông ấy đau bệnh thì làm sao vui được đây). Những chuyện chẳng mấy liên quan đến mình, nhưng bạn cứ vận vào mình, coi mình có “trách nhiệm”, liên quan đến nó gọi là các thông tin rác, thông tin nhiễu. Thế giới của suy nghĩ đúng là “người ta tâm viên ý mã” thật. Ông Phật Cổ Đàm Thích Ca Mu Ni đã phải ngồi 49 ngày dưới gốc bồ đề để “dọn thông tin rác” và sau đó Ngài chứng kiến sự giác ngộ. Ứng dụng tâm linh vào trong đời sống đâu có phức tạp như người ta tưởng. Ăn thì hãy tập trung vào bữa ăn cho ngon miệng, học thì thôi đừng nghĩ đến chuyện đi xem hát, ngủ thì nhắm mắt lại đừng nghĩ bất cứ một điều gì để ngủ say. Đói ăn, khát uống trình bày rõ nguyện vọng sống với chính mình. Tự do là công tác làm vệ sinh bộ não, dọn dẹp các thông tin rác và tự do chỉ đơn giản vậy đó.
Cũng như loài vật kia, não bộ con người là bộ máy học tập, cách học là nhận thông tin và phản hổi, đáp ứng với thông tin. Chỉ khác các loài động vật, bộ máy thần kinh con người không chỉ là một máy duy trì sự tồn tại của cơ thể, mà còn là “hệ thống hạ tầng cơ sở giáo dục” nhằm thăng hoa những giá trị tinh thần của con người, ở một khía cạnh nào đó. Hệ thống thần kinh có bộ phận cao cấp xử lý và phản hồi thông tin gọi là thần kinh trung ương. Nó cũng có những bộ phận nhận và vận chuyển thông tin, gọi là thần kinh ngoại biên. Các bộ phận khác của cơ thể hoàn toàn hoạt động dưới sự kiểm soát, điều hòa của hệ thống thần kinh. Thể xác con người hoàn toàn khách quan khi tiếp nhận và vận chuyển thông tin, có sao phản ánh vậy, không một sai lệch, trừ khi tổ chức tiếp nhận, vận chuyển và phản hồi thông tin này bị tổn thương hoặc trục trặc chức năng. Thêm nữa, do sự thái quá về học hỏi có ý thức, xây dựng ý thức trên căn bản khuôn mẫu của xã hội, nên con người phải “tự dối mình” khi đáp ứng phản xạ và được gọi với các mỹ từ “vấn đề nhạy cảm” nên phải ức chế. Đúng là có những vấn đề như vậy trong đời sống xã hội thật, nhưng không phải tất cả. Mỗi chúng ta có quyền tự do suy nghĩ và hành động hợp với lẽ tự nhiên và đó chính là cơ sở để ta tự ngẫm, tự học hỏi từ những nghịch lý này.
Người hiện đại ngày nay, từ sáng đến tối phải làm việc, đối mặt với công ăn việc làm, khi mệt nhoài, lên giường để ngủ, trong đầu vẫn không ngơi nghỉ suy tư, tính toán, cân nhắc, tự thảo luận, học hỏi trong một thế giới vô hình, thế giới nghĩ suy, thế giới tâm trí. Thế giới tâm trí và nghĩ suy này được hình thành do những ảo ảnh của não bộ, khi tiếp nhận các thông tin từ môi trường đưa vào cơ thể. Vì sao lại gọi là ảo ảnh? vì nó không thật với hoàn cảnh hiện thời mà bạn đang suy nghĩ. Xem TV thấy có trẻ bị chết đuối trên sông nước, vậy là sau đó cứ lo hoài và tự hỏi liệu con mình, cháu mình, người thân của mình sống gần sông suối có bị rủi ro như số phận của kẻ chết đuối kia. Thực ra để bị chết đuối có nhiều yếu tố kiểm soát và không loại trừ yếu tố vô hình, ở những hoàn cảnh cụ thể nào đó mới xảy ra. Trẻ con ở Miền Tây Nam bộ Việt nam hàng năm sống chung với lũ đâu có dễ chết đuối. Một sự kiện đe dọa đến sự bình an của người khác, hoàn cảnh nhất định, được gây thành ảo ảnh với một người, khi người đó lo sợ điều ấy xảy ra với họ. Sự đe dọa đó là ảo ảnh vì khó xảy ra và kết quả người lo sợ kia bị hao mòn sinh lực, sinh bệnh, suy nhược cả thể xác và tinh thần.
Trong đời sống, chỉ một ánh mắt của người mà mình giao tiếp, cũng để lại trong ta những ảo ảnh suy tư. Người này là ai? Lợi hay hại, tốt hay xấu, ánh mắt ấy có ý gửi tới ta điều gì. Ít nhất hình ảnh ấy cũng lưu lại trong não bộ bạn ít phút, ít giờ, mà có khi cả tháng và dài hơn, tùy tương tác ấy nằm trong khung giá trị nào của bạn. Nếu được gặp một vĩ nhân, ảo ảnh ấy sẽ lưu lại suốt đời bạn, vì khung giá trị của bạn là: “tôi đã gặp vĩ nhân” và sự gặp gỡ ấy sẽ là hành trang để bạn “khoe” với mọi người rằng “tôi thuộc về di sản đạo đức, di sản khoa học, di sản triết học…của vĩ nhân” và bạn ngầm ý muốn nói “tôi thuộc về đẳng cấp đó”. Các vĩ nhân thì vô cùng khiêm nhường và giản dị, nhưng bạn không muốn như vậy, bạn muốn thần tượng hóa vĩ nhân để ngầm “thần tượng hóa” mình và đây là vấn nạn trong thế giới tâm trí, thế giới suy nghĩ của con người. Trong thực tế, nó còn được con người lợi dụng và trong những hoàn cảnh cụ thể, con người đang xóa đi hình ảnh thực, cuộc đời thật của các vĩ nhân và của mình. Người Việt Nam có câu nói rất dễ thương “thấy sang bắt quàng làm họ”.
Thành tố tự nhiên trong trời đất

Để duy trì thể xác, con người cần ăn uống và hít thở khí trời. Lương thực thực phẩm thì do cây trồng và thịt sữa trứng từ động vật trong chuỗi thức ăn cung cấp. Nước và không khí, hai yếu tố tối cần thiết cho sự sống thì Trời Đất cho, không lấy tiền và con người chỉ cần biết giữ cho nguồn nước và không khí trong sạch, tránh bị ô nhiễm độc chất hóa học, là con người có thể ung dung sống mà không phải mua hai nguồn chất sống tự nhiên tối quan trọng này. Đây là hai nguồn vật chất sống quý giá, hai thành tố vật chất tự nhiên không biên giới vì các dòng sông lớn (mạch dẫn chính) đi qua nhiều quốc gia, rồi từ đó phân nhánh đến các vùng miền. Dòng sông hết cạn lại đầy, nhờ nước bốc hơi từ biển cả và mặt nước từ các ao hồ sông suối, theo luật tuần hoàn tự nhiên, mưa cung cấp nước thường xuyên cho sự sống muôn loài, rồi nước lại tụ tập về các dòng sông trôi về biển cả mênh mông.
Không khí được làn gió nâng cánh bay đi, bay xa, đối lưu khắp mọi nơi từ những vùng xa xôi hẻo lánh đến các thành thị chặt cứng xe cộ và con người. Gió đưa không khí, “chất sống” tối cần thiết đến mọi nhà, mọi miền vô tư như ánh nắng mặt trời, không phân biệt, không cần ai biết đến, không cần sự trả ơn, không mua không bán, âm thầm và tự nhiên . Sự chết của thể xác có nguyên nhân căn bản là rối loạn trao đổi nước “nước sạch” tinh nguyên trong cơ thể và không khí (dưỡng khí ô-xy) thì các nhà y học đã rành. Vì thể xác con người có gần 80 % là nước. Con người không chết nếu thiếu ăn cả tháng trong điều kiện vẫn được uống nước và hít thở không khí bình thường. Con người sẽ chết trong 5 đến 10 phút nếu không được thở không khí và một vị minh sư người Việt Nam đã gọi Thượng Đế là không khí, chính là cái ý này. Thực ra một ngày con người duy trì sự sống rất đơn giản, ăn đủ 3 lần, hít thở khí Trời trong lành và uống những giọt nước tinh khiết của trời đất, khoảng 1,5 lít nước là đủ duy trì thể xác cường tráng. Thể xác con người dễ tính, nết na lắm và nó dường như chỉ cần có vậy cho duy trì một “cái hộp” chứa đựng bên trong một sự sống bình yên, thấm đượm tinh chất tự nhiên nguyên ủy của sự sống.

Thành tố tự nhiên ẩn chứa trong ta

Như vậy, thể xác con người khi mới sinh ra thật hoàn hảo đúng với nghĩa là một tác phẩm sáng tạo Vĩ đại của Tạo Hóa. Nhưng thực ra cơ thể con người chủ yếu là nước. Thật vậy đứa trẻ mới sinh ra hoàn toàn vô tư trong sáng, hồn nhiên như những thiên thần mơ ước, để học những điều mới lạ, để cảm nhận vẻ đẹp vô ngôn mà Cha Trời, Mẹ Đất đã dành cho con người. Cái ta của đứa bé là gì? Đứa bé không có khái niệm này và nó chỉ biết đói ăn, khát uống và vui chơi hồn nhiên với muôn loài xung quanh một cách tự nhiên trong sáng, tinh khiết để học hỏi tiến hóa. Nếu chúng ta mơ ước chứng kiến tâm hồn trong sáng, thì không phải tìm đâu xa, hãy chơi với trẻ con. Chơi với trẻ, yêu trẻ là yêu mình vì nó rất có lợi cho sức khỏa của bạn và đúng là “trẻ con như búp trên cành”. Khi một đứa trẻ sinh ra từ lòng mẹ, cũng là lúc có một thành tố tự nhiên, dưới dạng một siêu băng tần sóng điện, từ môi trường bên ngoài, “nối mạng” với sinh thể bé bỏng này. Đây là một nhận thức hoàn toàn khác với những quan điểm triết học trước đây cho rằng: khi đứa trẻ vừa mới sinh ra thì đồng thời có một linh hồn nhập vào cơ thể với ý nghĩa đây là một thành tố năng lượng độc lập. Nó không độc lập và chỉ là “sợi dây” nối mạng xuất phát từ tự nhiên. Linh hồn tôi và linh hồn bạn là khác nhau xét theo giác độ thể xác, nhưng giống nhau xét theo quan điểm hệ thống. Câu chuyện các tia nắng: xanh, đỏ, vàng, lục, lam, chàm, tím cập nhật tới trái đất đua tranh nhau, khen mình đẹp còn các tia khác thì…Rồi chúng kéo nhau lên Trời nhờ Ngài phân định. Vừa tới cổng Trời, chúng trở lại bản thể giống nhau như hệt và hết chê nhau. Từ nhận thức có sự dị biệt, khác nhau đó, đã sinh ra các khái niêm sở hữu, đẳng cấp, lòng tham (tham danh, tham lợi) và nảy nở sinh sôi, làm xơ cứng, chai sạn tình thương của con người. Xin nhắc lại thể xác có thể là dị biệt vì thể xác là vật chất thì phải biến đổi đó là luật tự nhiên, linh hồn là năng lượng đặc biệt, là thành tố tự nhiên, là những băng tần sóng điện đặc biệt của trời đất ẩn chứa trong ta, không thể cân đo đong đếm, không thể phân tách, không trao đổi chất (không ăn, không mặc, không danh, không lợi, không tình, không giới tính). Linh hồn chỉ là một phân nhánh xuất phát từ “trường sự sống tự nhiên” từ trời đất, tự nhiên gắn nối với thể xác con người. Sự sống nguyên ủy, mã sống, code sống khởi thủy, mang cấu hình tự nhiên, ẩn chứa trong ta, chính là hiện tượng nối mạng này. Chúng ta, sự sống của mỗi con người chỉ là sự biểu hiện sự sống thật của “trường sự sống tự nhiên” hoàn hảo, không có gì để bàn, được trời đất lưu giữ và phát triển trong lộ trình sáng tạo con người, hàng tỷ năm của Cha Trời, Mẹ Đất mà thôi.
Trường năng lượng đặc biệt, vi tế “nối mạng” với cơ thể đứa bé và từ đó các mật mã của sự sống (life code) nguyên ủy, tinh khiết, trong sáng, lành tính, an nhiên của sự sống một con người, được hiện hữu vi tế trong cơ thể đứa bé. Không có gì để bàn về tâm hồn trẻ thơ, vì nó ngây thơ, an lạc và tinh tế vô cùng. Trường năng lượng đặc biệt này có thể hiểu khác là: trường thông tin sự sống, trường thông tin tổng hợp, mang đặc tính tự nhiên, đặc tính vũ trụ và hệ thống dưới nó là trường thông tin trái đất. Trường năng lượng này hoạt khá động một cách độc lập với cơ thể bé, không can dự nhiều vào các hoạt động sinh lý của bé, nhưng lại là nguồn sống của bé. Hiện tượng ngây thơ hồn nhiên của bé đích thực là do não bộ của bé chưa bị các thông tin rác chiếm giữ, tạm hiểu như vậy. Khi thể xác của bé bị cắt liên hệ với trường năng lượng này thì bé không thể sống được. Ví như cái điện thoại di động khi đi vào vùng không được phủ sóng, điện thoại vô dụng. Ngày nay bằng kỹ thuật chụp ảnh đặc biệt người ta đã chụp được điển quang của chùm năng lượng đặc biệt này. Mỗi một sinh thể, tùy trạng thái tâm sinh lý, tuổi tác và giới tính và đặc biệt là sự cộng hưởng về tương tác sinh học của sinh thể với muôn loài vạn vật xung quanh, kể cả các sóng điện từ vũ trụ cập nhật tới sinh thể, mà người ta thu được các điển quang của trường năng lượng đặc biệt này, với cấu hình và màu sắc khác nhau. Như vậy linh hồn của con người hay thành tố tự nhiên trong sinh thể không đặc thù cho cá thể mà có một nguồn cội chung, mang đặc tính đặc tính tạm thời khi “gắn nối” conect với trường sự sống Trái đất và hệ thống trên nó là trường sự sống vũ trụ và đại càn khôn. Linh hồn, thành tố tự nhiên chỉ độc lập tương đối khi con người còn chưa nhận ra nó, còn thực chất nó vốn hài hòa với trường sự sống chung của trời đất. Nhận ra thành tố tự nhiên ẩn chứa trong ta là bước khởi đầu quan trọng trợ giúp cho bạn có phương pháp luận mới về bản chất sự sống.

Thay cho lời kết

Cuộc sống quanh ta có bao điều thú vị, tình yêu cuộc sống trong ta cứ mãi mãi tuôn trào, đau khổ đâu phải do Trời Đất bắt ta, âu là do ta chưa chịu học, học bài học nghịch lý của cuộc đời ta. Dòng chảy thời gian không ngưng nghỉ, chảy mãi khôn nguôn và đưa sự sống muôn loài đến bến bờ mới đầy sáng tạo và an vui. Có một lời khuyên từ ai đó “nếu nhân loại cùng hướng về một điểm” - điểm khởi nguyên của hai đại lượng số nhiều thời gian và không gian do Đấng Sáng Tạo ban truyền, thì nỗi khổ đau trầm luân vô hình đâu đó sẽ hết và trang sử mới, con người mới sẽ ra đời. Vì thế mà điều kiện cần và đủ lúc này là biết học, học bài học nghịch lý của Trời Đất và cuộc đời ta. Với một niềm tin nặng tình Mẹ, mong cho “hết cơn bĩ cực tới ngày thái lai” đến với chúng ta, nhân loại thân yêu này.
Đ.V.T. (Còn tiếp)
__________________
Hạnh Phúc thay ! Mỗi sớm mai thức dậy,lại có thêm một ngày để yêu thương .
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 2 người đã gửi lời cảm ơn đến tuanvu_quynh1949 vì bài post hữu ích này:
Luciola (16-01-2012), Nhat nguyen (16-01-2012)
Old 17-01-2012, 11:38 am  
tuanvu_quynh1949
Senior Member
 
tuanvu_quynh1949's Avatar
 

Default
KHOA HỌC TÂM LINH NHÂN ĐIỆN.

Lời tự sự của MEKONG.
(huynh cho phép T.V đăng lên đây ,chi sẽ cho ace trên diễn đàn thay lời chúc mừng năm mới,và tưỡng nhớ đến Thầy mến yêu .)

Chương 3
NĂNG LƯỢNG ẨN TỰ NHIÊN
Văn minh và năng lượng

Có nhiều tiêu chí để đánh giá sự tiến bộ và giá trị của các nền văn minh nhân loại, trong đó không thể thiếu một tiêu chí quan trọng đó là dạng và cách thức sử dụng năng lượng vào đời sống. Có hai dạng năng lượng chính mà loài người đã và đang sử dụng (i) năng lượng tạo ra sức mạnh cơ giới như xăng dầu, chất hạt nhân để chạy máy móc (ii) năng lượng tự nhiên dạng ẩn, không chỉ tạo ra sức mạnh vi tế để xây các kim tự tháp cổ xưa theo truyền thuyết, mà còn sử dụng để chữa bệnh và được bộc lộ với nhiều khả năng đặc biệt khác. Dạng năng lượng tự nhiên dạng ẩn này còn có vai trò kích chấn trong những hoạt tinh thần của con người mà bạn đọc có thể chưa biết đến. Nói rộng ra, thánh thần, ma quỷ và những truyền thuyết li kỳ hay những khả năng đặc biệt của con người như có khả năng ăn sắt thép, uống acid mạnh, khả năng tiên tri, khả năng tìm kiếm hài cốt và nhiều khả năng đặc biệt khác đều là những biểu hiện của các dạng thức và biến đổi của năng lượng ẩn tự nhiên. Dạng năng lượng thể ẩn này dường như đã được những nền văn minh cổ xưa sử dụng rất hiệu quả, nhưng bị lãng quên vì nhiều lý do khác nhau. Có thể những nền văn minh này đã bị những thảm họa tự nhiên hủy diệt và những nạn nhân sống sót sống lưu lạc ở khắp nơi và đã không thể khôi phục lại được. Dấu vết còn để lại được thể hiện ở những dạng thức đặc biệt, như mật truyền hay được cất dấu bằng những cách đặc biệt mà con người ngày nay với duy thực chứng (thấy được, cân đo đong đếm được) khó có thể tiếp cận để nghiên cứu và ứng dụng.
Thật vậy, truyền thống tâm linh Á Đông được biết đến với nền khoa học tâm linh diệu kỳ được coi là nền tảng triết học cho những nền văn minh của nhân loại ngay từ thuở khai thiên lập địa. Thuở ấy, con người đã biết sử dụng năng lượng vi tế trong tự nhiên, tạm gọi là năng lượng vũ trụ để chữa bệnh, xây dựng các thành quách bằng đá, các kim tự tháp vĩ đại. Làm thế nào con người có thể xây dựng được những công trình tầm cỡ như vậy, khi mà công cụ lao động của người xưa còn rất thô sơ? Đến nay, vẫn chưa có lời giải thỏa đáng và nếu có, thì mới chỉ là những giả thiết khoa học.
Những giá trị vật thể và phi vật thể của những nền văn minh cổ, minh chứng cho tầm mức tiến hóa của nhân loại vẫn còn nguyên đó, nhưng với hiểu biết khoa học hiện đại thì chúng ta chưa lý giải được cơ chế vận hành năng lượng trong quá trình xây dựng các công trình đó, cũng như những khả năng đặc biệt: phân thân, hiểu được ý nghĩ của người khác thậm chí không cần gặp và nhiều khả năng kỳ diệu khác. Người xưa chỉ có sức lao động chân tay là chính và công cụ xây cất thì vô cùng thô sơ. Vậy sức mạnh nào đã di chuyển được những khối đá cực lớn hàng chục tấn với quãng đường hàng trăm cây số đến nơi xây cất kim tự Tháp và lại còn nâng những khối đá đó lên cao và xếp đặt chúng theo đúng trật tự, chính xác đến từng tiểu tiết, điều này vẫn như đang chờ lời giải từ giới khoa học.


Phương vị và tâm linh

Những nghiên cứu của giới nhà khoa học cho thấy các kim tự tháp, các tượng đài tâm linh cổ xưa của người thượng cổ, dù họ sống rải rác khắp nơi trên thế giới nhưng đều được bố trí, xếp đặt thống nhất về phương vị. Phương vị ấy là Phương Đông, nên trong tiếng Anh có từ orientation có nghĩa là hướng mặt trời mọc, là định hướng. Phải chăng nhân loại đang cần phải định hướng lại con đường phát triển và tiến hóa theo cách người Á Đông xưa đã làm. Một điều lý thú ai cũng biết đó là: dòng sông Mê Kông và các dòng sông lớn khác trên đất nước Việt Nam đều có phương vị “định hướng” chảy theo hướng Đông ra biển. Đích thực đất nước này có nhiều điều kì diệu về khoa học tâm linh xét theo tư duy phương vị “định hướng”. Dòng Mê Kông bắt nguồn từ mái nhà thế giới đổ về miền châu thổ đồng bằng Cửu Long ra biển qua chín cửa sông dường như là phương vị cho trục tâm linh mới. Điều này cần được nghiên cứu. Về khía cạnh nhân chủng học, thì các nhà khoa học cho thấy diện mạo, hình tướng của nhóm dân sống ở vùng núi tuyết với người Việt Nam có nhiều nét tương đồng, na ná giống nhau về kiểu hình. Nhóm cư dân sống ở thượng nguồn dòng sông huyền thoại này, phần đa theo Phật giáo Đại Thừa và có dòng Mật Tông. Còn cuối dòng Mê Công trên lãnh thổ Việt Nam, cư dân lại cũng phần đa thờ Phật và thuộc Phật giáo Tiểu Thừa. Sự tương đồng nhưng lại có nét khác biệt về cấu hình tư tưởng này cần được nghiên cứu. Vì thế, nếu nói dòng sông thân thương này có thể như một trục tâm linh gắn kết nghĩa tình (tâm linh) giữa các dân tộc vùng Đông Nam Châu Á (Asian countries) cũng là điều có lí. Tuy vẫn còn đâu đó có sự dị biệt nhưng điều này sẽ được điều hòa trong một tương lai gần, nhờ những đóng góp vô danh của những người con biết mình có cội nguồn từ vùng núi tuyết.
Thượng nguồn dòng Mê Kông, nơi được biết đến là vùng đất thiêng mà nhiều vị minh sư trong mọi thời đại đã từng tới để học hỏi tu hành. Hạ nguồn Mê Kông là nơi có nhiều điều bí ẩn vẫn chưa được biết đến và có một số nhà tiên tri cho biết: sẽ có Thánh nhân xuất hiện vào ngày Đại hỷ của nhân loại. Thánh nhân phải chăng là những vị có khả năng đặc biệt, minh triết, những người tài trí xuất hiện để dìu dắt sự phát triển nhân loại hợp thì và đồng pha với những thay đổi của hành tinh và vũ trụ, theo hướng thay đổi tiến hóa. Triết học Đông phương trong một tương lai gần sẽ trở thành một triết lý xứng đáng để định hướng cho nhân loại phát triển.
Từ những thế kỷ trước đã có nhiều học giả Phương Tây đã từng đến Phương Đông để nghiên cứu học hỏi nền triết học siêu việt ở đây. Thậm chí, những nhân vật nổi tiếng ác tâm như Hitler cũng đã có ý định đến vùng núi tuyết để học hỏi. Vì sao các nhà khoa học lại muốn đến vùng sơn cước, nơi mà “ánh sáng” của nền văn minh vật chất có khi còn chưa đến được? Những nơi được nhiều nhà khoa học đến là: Tây Tạng và vùng Trung cận Đông, gần đây là Nam Mỹ, những nơi cũng có nhiều Kim Tự Tháp. Theo thuyết “lục địa trôi” của ngành khoa học địa cầu thì Nam Mỹ là phần tách ra từ một lục địa xa xưa có nền văn minh Kim Tự Tháp. Đã có nhiều giả thiết khoa học cho rằng các kim tự tháp có liên quan đến cơ chế sử dụng năng lượng vũ trụ, dạng năng lượng ẩn của tự nhiên.
Nhận xét chung của các nhà nghiên cứu khi đến vùng đất tâm linh này của thế giới đều cho rằng: ở đây, Á Châu đã tồn tại một nền văn minh đẳng cấp, vượt xa những gì người Tây Phương biết được. Sự hiểu biết của một số vị minh sư Á Châu như Lão Tử, Đức Phật Cồ Đàm Thích Ca Mâu Ni và nhiều vị khác kể cả những vi ẩn danh là sự hiểu biết toàn thể thâm sâu mà những kiến thức hiện có của người Phương Tây không đủ căn cơ để tiếp nhận đầy đủ. Chưa tiếp cận được khái niệm triết học thì còn rất xa người Phương Tây, khoa học hiện nay mới có thể vận dụng các quy luật sự sống và vũ trụ theo quan điểm Đông Phương vào đời sống và đó là điều đáng tiếc.
Dòng Mê Kông và những dòng sông khác trên hành tinh này cứ chảy mãi không nguôi với thời gian, mang những “kho báu” phù xa và tài sản vô hình “tri thức nhân loại tinh nguyên” dưới dạng các băng tần sóng điện trong mọi thời đại đến với các miền quê êm ả thanh bình. Nước sông là sữa Mẹ nuôi cho lúa trĩu bông, ngô đọng sữa và sức sống dâng trào Mẹ ban tặng cho con người, những đứa con yêu của Mẹ Đất. Chúng con đội ơn “hồn thiêng sông núi” để có chốn quang minh, để có ngày nụ cười nở trên môi nhân loại. Chúng con tự hào được uống sữa Mẹ “người đàn bà vũ trụ” thuở nào, nay đã 4 tỷ năm tuổi kể từ ngày Mẹ được “lập địa” khai sinh ra hành tinh xanh này. Trải qua bao thăng trầm biến đổi Mẹ vẫn còn đấy để ôm con vào lòng Mẹ, để dưỡng sinh đàn con và muôn loài cùng sinh sôi phát triển và tiến hóa.
Tri thức tinh nguyên của nhân loại không chỉ là những kiến thức khoa học công nghệ mà con người biết được ngày nay, mà còn là “bể kiến thức nhân loại” vô hình, “trường thông tin tổng hợp vũ trụ” mà các giống dân trước người hiện đại đã từng tạo lập vẫn còn đâu đấy ở quanh ta dưới dạng năng lượng ẩn tự nhiên. Đó dường như là nguồn tài nguyên tâm thức vĩ đại có ở trong ta. Câu hỏi đặt ra là: làm thế nào để tài nguyên này được biết đến và tỏa sáng trong mỗi chúng ta trước cuộc Đại tạo lần này? Bạn hãy tự học hỏi tiến hóa để khi tiềm năng con người trong ta tỏa sáng thì tự bạn sẽ có lời giải.

Năng lượng tự nhiên dạng ẩn và con người

Người Phương Tây chỉ biết cách nghiên cứu năng lượng hóa thạch và nói đúng hơn là năng lượng sinh học (bioenergy) và dạng hóa thạch của nó gọi bằng danh từ tiếng Anh fossile energy (có nghĩa là năng lượng sinh học được hóa thạch) để ứng dụng vào đời sống. Điều đó là rất đáng khâm phục nhưng chỉ hữu hạn nên thiếu tính bền vững. Trong khi đó tầm triết học của nền văn minh cổ Á Đông là: hiểu biết sâu sắc về năng lượng tự nhiên, dưới dạng năng lượng ẩn, năng lượng vũ trụ và quan trọng nhất là ứng dụng dạng năng lượng tự nhiên thể ẩn này vào đời sống để các hạt giống lương tâm trong mỗi chúng ta đâm chồi nảy lộc cho đời sống hạnh phúc và an bình. Gọi là năng lượng tự nhiên ẩn vì các phương tiện của khoa học hiện tại chưa tiếp cận để có thể lượng hóa, cân đo đong đếm được. Trong tương lai, khi tiềm năng con người phát triển đủ ngưỡng, hy vọng khoa học sẽ sáng chế ra phương pháp nghiên cứu tương thích để nghiên cứu và ứng dụng dạng năng lượng đặc biệt này vào đời sống.
Mặt khác, nền khoa học cổ Phương Đông không cần nhiều đến máy móc để vận hành và sử dụng năng lượng. Vì sao ư? Vì người Đông Phương xưa cho rằng mỗi con người là một cỗ máy tiếp nhận và chuyển hóa năng lượng tự nhiên. Nếu có cỗ máy sử dụng năng lượng tự nhiên thì nó lại rất dung dị, có khi chỉ là một tảng đá được đặt với những phương vị nhất định (cái máy tự nhiên) hay là một con người bằng da bằng thịt với những âm tiết rất đơn giản để vận hành năng lượng vi tế hàm chứa trong tự nhiên. Những vị minh sư với kiến thức uyên bác đã sử dụng những âm tiết đơn giản mang tính mật truyền, giống như mật mã điện tử để mở khóa và cái đó được gọi là các câu “thần chú” để điều khiển vận hành năng lượng tự nhiên, năng lượng vũ trụ phục vụ cho những mục đích cơ học và nhiều mục đích khác của đời sống nhân sinh đa dạng muôn màu.
Các học giả nghiên cứu về Đông Phương Học cho thấy rất ít khi các vị minh sư sử dụng quyền năng vào đời sống thường nhật và nếu có chỉ trong những dịp hoặc hoàn cảnh đặc biệt. Những con người đặc biệt, kể cả các vị thể xác ở trạng thái nhập định spitual connection hàng triệu năm nay ở các hang động núi tuyết, có nhiệm vụ gì thì đến nay còn chưa được biết đến đầy đủ. Dường như nhiệm vụ đặc biệt của các vị minh sư được tóm tắt với những giả thiết dưới đây.
(i) Sự nhập định lâu dài của dạng người Xômachi có lẽ là ở những chiều không gian khác mà chúng ta có thể người chưa biết được và dường như có một thế giới song hành với con người vật chất, ba chiều như chúng ta.
(ii) Đâu đó vẫn có những giả thuyết về các Ngài như: chính các Ngài đang giữ quỹ gene cho nhân loại, để nếu có sự kiện Đại Hồng Thủy tái diễn thì quá trình vật chất hóa gene từ quỹ từ quỹ gene nhân loại ẩn sẽ được thực hiện để duy trì sự sống trên hành tinh này.
(iii) Sự hiện diện đặc biệt của các Ngài ở các hang động núi tuyết và nhiều nơi khác còn có nhiệm vụ thức tỉnh tâm linh, để chứng tỏ cho nhân loại biết: ngoài những hiểu biết của nền khoa học hiện đại được coi là vĩ đại, thì còn có những hiểu biết với tầm siêu đẳng vượt xa tầm của người hiện đại. Phải chăng tầm hiểu biết siêu việt ấy đang được lưu trữ dưới dạng các băng tần sóng điện đặc biệt, tạm gọi là “kho trí thức nhân loại”, “bể kiến thức vũ trụ” hay “trường thông tin tổng hợp”. Biết đâu nhân loại sẽ có người nối được với trường thông tin này để tiên tri, cảnh báo hoặc làm nhiều nhiệm vụ đặc biệt và hoàn toàn vô danh vì sự tồn vong của Mẹ trái đất và muôn loài.
(iv) Dường như là các vị là những người giữ chìa khóa tiến hóa, đang chờ ngày nhân loại thức tỉnh, biết sống thương yêu nhau, thương yêu muôn loài và sống hài hòa với tự nhiên, mà trao cho. Chìa khóa ấy phải chăng là chìa khóa sử dụng năng lượng tự nhiên dạng ẩn, chìa khóa “khoa học tâm linh ” đã bị thất truyền, do sự ngạo mạn và tách mình ra khỏi các thành tố tự nhiên của con người.
Giới khoa học và những vị có trách nhiệm trong xã hội, cũng như các thương gia, các vị giáo chủ, những người có quyền lực trong xã hội, nên có cách nhìn đúng mức về tầm mức cũng như giá trị vô giá của nguồn tài nguyên năng lượng ẩn này để có được những định hướng phát triển cho nhân loại trong tương lai. Đừng chờ đến ngày mọi chuyện được tự nhiên “điều chỉnh” mới trở tay thì e rằng đã muộn. Với một niềm tin nặng tình Mẹ, chúng ta hy vọng sẽ có những sự hợp tác và lắng nghe của các quý vị vì tương lai của chính mỗi người và nhân loại tiến bộ.

Cảm giác hạnh phúc

Vật chất và năng lượng là hai dạng thức được khoa học biết đến và là đường dẫn, cơ sở cho những sáng tạo của nền văn minh vật chất. Vật chất là những gì con người cân đo đong đếm được. Giá trị của vật chất do con người định ra theo tiêu chuẩn quý hiếm, lợi ích cho đời sống của con người. Năng lượng là biểu thị tiềm năng của sức mạnh, tiềm năng sử dụng vật chất. Tùy theo mục đích của con người và sự phát triển của khoa học mà khái niệm năng lượng được phát triển nhằm phục vụ cho lợi ích con người theo tiêu chí giá trị và nó luôn thay đổi. Ví dụ bằng máy xác định năng lượng Bom calorimeter, người ta biết được: cứ đốt cháy hoàn toàn 1 gram thịt hay 1 gram chất bột thì giải phóng 4,1 kcalo nhiệt năng. Như vậy, năng lượng theo quan niệm thông thường cũng là năng lượng ẩn vì miếng thịt hay chất bột kia không “bộc lộ” năng lượng để con người thấy được. Nói cách khác con người không thể thấy được năng lượng ẩn chứa bên trong vật chất. Năng lượng ẩn tự nhiên là khái niệm năng lượng đặc biệt, vừa ẩn chứa ở vật thể và cả dạng phi vật thể. Xin bắt đầu câu chuyện với sự vận hành năng lượng tự nhiên dạng ẩn trong thể xác con người để ai cũng có thể hiểu được dưới đây.
Suy cho cùng mọi hình thức sống, kiểu sống (style of life) đều dẫn đến một mẫu số chung là cảm giác khỏe mạnh và hạnh phúc (good feeling) của con người mà thôi. Những người hạnh phúc là những người thường xuyên có cảm giác loại này. Cách tạo ra cảm giác hạnh phúc thì lại rất đơn giản mà ít người biết tới. Giản dị như một lão nông phu ngồi uống chén rượu nhạt với người tri kỷ, đàm luận về nhân tình thế thái, về vụ mùa sắp tới và lão có ngay một cảm giác hạnh phúc, và khi ông ra đồng, ông sẽ cày ruộng với niềm hứng khởi khi nghĩ về một mùa vàng bội thu đang chờ phía trước. Trái lại, một ông chủ giàu sang, đi máy bay khắp chân trời góc biển, sống trong các khách sạn năm sao nhưng chưa hẳn đã có được những phút lắng đọng tâm hồn và thực sự cảm nhận được điều kỳ diệu khi thấy sự hợp nhất của năm thành tố tự nhiên: đất, nước, lửa (ánh nắng mặt trời), gió (không khí, hương đồng gió nội) và con người (bạn tri kỷ), như bác nông phu nghèo hèn kia. Tiêu chí cuối cùng con người sống và đạt tới là cảm giác hạnh phúc.
Làm thế nào định lượng được cảm giác hạnh phúc đây? Chỉ chính bạn mới có thể biết bạn có hạnh phúc hay không, vì cảm giác hạnh phúc chỉ tự mình biết được, ngoài ra không ai hoặc không có thiết bị nào có thể cân đo được chính xác cảm giác hạnh phúc của bạn. Các sắc thái cảm giác cũng muôn màu muôn vẻ như hứng khởi, khoái lạc (hedonic sensation), hạnh phúc, tự tin yêu đời, khỏe mạnh (well being), vui vẻ (enjoining) và nhiều sắc thái khác. Làm việc là cái gốc của hạnh phúc, làm để đủ sống, biết chia sẻ với đồng loại, biết giao hòa với cỏ cây hoa lá, chúng ta sẽ có ngay những thăng hoa trong đời sống tinh thần và đó là lời khuyên dành cho độc giả.
Câu hỏi đặt ra từ câu chuyện trên là: phải chăng tìm niềm vui cuộc sống có khó đến mức phải đi đến chốn thị thành náo nhiệt, giàu sắc màu mới thấy, hay chỉ đơn thuần là cảm nhận những thành tố tự nhiên sẵn có quanh ta. Nếu chúng ta dùng tư duy khoa học truyền thống để phân tích theo kiểu đầu vào vật chất thế nào, thì hiệu ứng đầu ra tương thích như vậy thì đời sống vật chất của lão nông phu cần lao kia có gì để so với một đại gia nhiều tiền lắm của. Vậy phải có cơ chế nào đó tinh tế vận hành và trao đổi năng lượng tự nhiên, nguồn cội của cảm giác hạnh phúc chứ?. Mời bạn tiếp tục đồng hành với tác giả tìm hiểu về cơ chế đó ở những trang viết dưới đây.

Hoa thật hoa giả

Ngày nay với kỹ nghệ máy tính siêu việt, người ta có thể trộn các màu sắc tinh tế để in sách, in hoa trên mặt vải và làm những bông hoa giấy, hoa nylon được ca ngợi là “giả như thật”. Nhưng cho dù kỹ nghệ làm hoa giả có siêu đến đâu thì vẫn là màu “chết”, màu phản quang của hóa chất trong hoa giả, khi nó tiếp nhận ánh sáng mặt trời. Nó đẹp đấy nhưng làm sao có thể so với màu của con cánh cam vàng rực trong nắng mai hay bông hoa ngũ sắc đồng nội lúc chiều về. Vì sao màu sắc tự nhiên lại quyến rũ lòng người đến vô tận như vậy? Màu con cánh cam hay màu của các bông hoa đồng nội kia biến đổi hợp thì với dòng chảy thời gian, nên nó tươi màu tự nhiên và gọi là màu “sống”. Hay nói khoa học hơn thành phần hóa học trong bông hoa luôn thay đổi theo mùa tiết, theo thời gian và hợp thì với “cảm xúc” về khí trời lúc nó khoe sắc. Người ngắm hoa cùng đồng hành với đại lượng thời gian, “cùng thời” với đóa hoa nở, nên cảm nhận được sự tinh tế đến vô cùng của đóa hoa xinh đẹp, hợp với dòng chảy năng lượng thời gian với khí trời tại thời điểm ấy. Đúng là có một cơ chế năng lượng siêu việt, tinh tế, tự nhiên luôn vận hành cảm giác của con người. Tại sao các màu sắc nhân tạo lại làm ta dễ nhàm chán? Bởi lẽ các chất hóa học kia cứ “trơ trơ” với dòng chảy thời gian với nóng lạnh bất thường. Bất luận sáng trưa chiều tối bông hoa giả nó cứ “tươi” màu hóa học và lâu dần tạo ra cảm giác đơn điệu. Còn bông hoa đồng nội kia là những tế bào sống, gần gũi và liên quan hơn với biến đổi của thời gian và các tế bào sống trong ta. Các khái niệm “đồng pha”, “hợp thì” với thời gian, dòng thời gian trôi của các thể sống tự nhiên cần được nghiên cứu để nhận biết sự tinh tế của năng lượng tự nhiên ẩn chứa trong đại lượng thời gian. Cơ chế tự nhiên, năng lượng tự nhiên vận hành sự sống của muôn loài có mối tương đồng về thời gian và màu sắc tự nhiên có liên quan rất mật thiết với sức khỏe của con người. Cung bậc cảm xúc của con người gắn với tự nhiên, với sự biến đổi của tự nhiên thật tinh tế và bất tận về cảm xúc.
Các quy luật tự nhiên thì có nhiều và chúng ta không luận bàn ở đây, tác giả bài viết chỉ muốn nhắc lại cảm nhận về Thượng Đế của riêng mình là: Thượng Đế không phải là con người, mang hình mẫu con người và Ngài là Đấng Tự Nhiên vô hình, là năng lượng tự nhiên dạng ẩn. Ngài đã thông qua hai đại lượng vĩ đại là thời gian và không gian để vận hành đời sống vũ trụ và muôn loài. Cách tiếp cận của nhân loại nên là: để hiểu biết đầy đủ về Đấng Sinh Thành vũ trụ và con người, thì con người dường như cần nghiên cứu giá trị năng lượng ẩn chứa trong hai đại lượng vũ trụ kể trên đặng không xa vào mê tín dị đoan. Tất cả những khái niệm về Ngài trước đây là rất đáng trân trọng và hợp với căn cơ tư duy của nhân loại hơn 2000 năm về trước. Ngày nay mỗi người hãy tự khám phá ra Ngài và biết đâu ngài chỉ dung dị là năm thành tố tự nhiên và sự vận hành năng lượng của năm thành tố này. Đây vừa là thách đố của khoa học tâm linh và cũng là cách tiếp cận mang tính kế thừa tri thức của nhân loại trong mọi thời đại trên hành tinh này.

Phát triển bền vững

Khoa học phương Tây chú trọng vào nghiên cứu thế giới vi mô, còn khoa học phương Đông thì nghiên cứu thế giới vĩ mô, tìm các quy luật toàn thể, năng lượng toàn thể, năng lượng sáng tạo ra muôn loài trên thế gian này và đại càn khôn. Các vị minh sư trong mọi thời đại như Đức Phật, các vị khác và ngay cả Đức Chúa tôn kính cũng đã từng có thời kỳ tu học ở vùng núi tuyết, Tây Tạng. Nhưng tiếc thay người Tây Phương chưa có cơ duyên học những “trang” với triết lý nguyên khởi mà Đức Chúa đã học và điều đó cũng là tự nhiên.
Ngày nay, chúng ta những hậu duệ của các Ngài đang hướng tới sử dụng năng lượng vũ trụ, nguồn năng lượng siêu việt, vô cùng vô tận, có ở mọi nơi mọi chốn để phục vụ đời sống con người. Nếu nó được sự chỉ dẫn của khoa học thì đó là niềm hy vọng đặng ứng dụng hiệu quả dạng năng lượng đặc biệt này vào đời sống và sáng tạo ra nền văn minh mới dựa trên căn bản năng lượng ẩn tự nhiên của Đấng Tạo Hóa. Vì sao vậy? Vì những nguồn năng lượng thay thế cho năng lượng hóa thạch, ngay cả năng lượng ánh sáng mặt trời, thì cũng chưa hẳn đã vô hạn (tuổi thọ của mặt trời theo tính toán khoa học còn khoảng 3 tỷ năm nữa). Chỉ có năng lượng vũ trụ, năng lượng tinh tế ẩn chứa ở hai đại lượng không gian và thời gian do Ngài tạo ra để vận hành vũ trụ thì mới tạm gọi là vô hạn. Thật biện chứng để nói rằng: chỉ dùng cái vô hạn, nguồn năng lượng vô hạn, thì mới có thể định hướng cho sự phát triển bền vững đời sống nhân loại ở quả địa cầu này. Làm quen với việc sử dụng năng lượng mới, con người mới thay đổi được thói quen để thích nghi với những thông số vũ trụ mới và tồn tại phát triển. Ngày này 15 tháng 11 năm 2008, nhân loại gần xa, có biết bao âu lo âm thầm về những sự “điều chỉnh” của tự nhiên bằng những lời đồn đoán tiên tri về thảm họa tự nhiên và những trang viết này hy vọng sẽ có thể may mắn đến được với bạn đọc như món quà nhỏ tâm tình cùng bạn đọc.
Phát triển bền vững đặt con người làm trung tâm cho sự phát triển mà năng lượng ẩn tự nhiên là cơ sở. Điều này đã được nhân loại ở thời xa xưa ứng dụng mà giống dân gần chúng ta nhất là chủng người Atlantic. Thuở đó, nhờ biết cách vận hành năng lượng ẩn tự nhiên vi tế, con người đã thực sự tiến hóa cao siêu, nhưng do những lỗi nguyên thủy trong bộ gene nhân loại, chứng nào tật ấy họ đã dùng sức mạnh tự nhiên để chinh phục nhau và chính điều đó đã dẫn đến sự nhấn chìm lục Đại Lục Địa Alantic xuống biển Đại Tây Dương sau cơn Đại Hồng Thủy gần đây nhất. Sau đó, số sống sót tìm đến vùng Trung Cận Đông, Nam Mỹ và có một số vị di chuyển đến Tây Tạng để tiếp tục hồi phục nền văn minh phát triển cao này. Nhưng chìa khóa sử dụng năng lượng ấy, ngày nay chưa được trao đầy đủ vì lỗi hệ thống về tư duy của nhân loại. Bài học Atlantic mãi còn đó như lời nhắc nhở chúng ta trong việc sử dụng năng lượng tự nhiên và sức mạnh của tự nhiên.
Nếu cơ duyên đến với nhân loại lần này thì “con người bao giờ cũng giữ vai trò trung tâm trong sự phát triển bền vững của nhân loại”. Các gene mới tạm gọi là gene hiệu chỉnh lỗi tư duy hệ thống của nhân loại khi chưa được kích hoạt trong bộ gene con người thì e rằng sự điều chỉnh ở tầm mức vĩ mô của Ngài đang xảy ra cũng là điều tự nhiên. Thật vậy, minh triết như giống dân Atlantic mà vẫn còn phạm sai lầm và phải chăng đó vì cái danh của một số cá nhân “kiệt xuất” đã dẫn đến thảm họa tự nhiên nhấn chìm cả một lục địa xuống biển. Cũng có lý để nói rằng chính sự biến động vĩ mô của khí hậu hiện nay đi liền với những thảm họa tự nhiên là điều kiện để kích chấn gene hiệu chỉnh lỗi tư duy hệ thống của nhân loại thì sao. Dù bạn có là ai đi nữa thì cũng không có ý nghĩa gì khi các thảm họa cứ dồn dập đến với Trái đất, ngôi nhà chung của chúng ta. Đó là điều thật giản dị mà tất cả mọi người, ai cũng phải biết.
Có một người Thầy đã nói: các vị minh sư xưa tuy đã rất tài giỏi, học được 100 bài học của Thượng Thiên (ý nói bài học từ kiến thức vũ trụ) nhưng thiếu bài 101, bài học thực hành tình yêu thương muôn loài vạn vật, đã tưởng mình “ngộ” rồi xuống núi để hành đạo nên không tránh khỏi thiếu sót. Vì thế để phát triển bền vững con người cần không ngừng cập nhật sự hiểu biết (bước một), rồi thay đổi thái độ hợp với sự hiểu biết (bước hai) và cuối cùng là thay đổi thói quen hành động (bước ba) cho hợp với lương tâm một cách tự nhiên. Có nhiều bạn đọc hỏi tác giả rằng con người mới ra đời trong chu kỳ biến đổi này có đặc tính gì? Đó là con người với tấm lòng rộng mở, có trái tim ngập tràn tình yêu thương mang đặc tính tự nhiên, biết sống hài hòa với nhau và với tự nhiên. Lộ trình phát triển tiến hóa của mỗi cá nhân gồm 3 bước kể trên nếu được tuân theo sẽ có được sự phát triển bền vững. Mỗi con người phát triển bền vững thì xã hội sẽ được bền vững. Trong thiên hạ đã có rất nhiều vị hiểu cao biết rộng và nói hay, nhưng còn thiếu hai bước sau của tiến trình phát triển, nên nhân loại đâu có tiến hóa được nhiều trong suốt mấy ngàn năm qua.
Trong lịch sử nhân loại có biết bao vĩ nhân với sự hiểu biết vĩ đại, từ bi bác ái và tình thương đã được đề cao, ngợi ca nâng lên thành những siêu nhân với phẩm hạnh cao quý, nhưng tất cả những điều đó mới dừng ở bước một (sự hiểu biết). Sự hiểu biết là con đường duy nhất để các lý thuyết trên được đi vào cuộc sống. Chủ thể của sự hiểu biết không tự đề cao và nhận nó thuộc mình, thì tình thương mới tỏa sáng qua hành động. Chủ thể hiểu biết nhận nó là của mình thì đồng nghĩa với cái danh xuất hiện. Nói dễ hiểu hơn, khi sự hiểu biết có được thuộc sở hữu của một con người, thì cái ta của chủ thể “cướp” mất hết và chỉ còn cái tôi. Tình thương khi chỉ còn là một danh từ trơ trọi một sẽ không thể tỏa sáng. Có thể nói tình thương thiếu sự hiểu biết đôi khi đồng nghĩa với vô minh. Vậy nên, chữ tình thương trong mấy ngàn năm qua vẫn dừng lại ở bước một của quá trình minh triết và nó trở nên sáo rỗng, “đầu môi chót lưỡi” và chưa thực sự đi vào cuộc sống, vào lòng người. Tình thương để thờ phượng, tôn vinh thì đã được thực hiện suốt mấy ngàn năm nay và nhờ tình thương kiểu này đã có những quyền lực mang tính đẳng cấp ra đời. Để làm gì ư? Để tôn vinh, thờ phượng cho vui, chứ mấy vị có đẳng cấp kia nếu phải đi đạp xích lô để kiếm sống e rằng chỉ được mấy bữa. Làm từ thiện là rất đáng trân trọng, nhưng nếu chỉ vì cái danh của mình hoặc đơn thuần là cầu phúc thì ý nghĩa của việc làm ấy sẽ bị giảm đi.
Những người có khả năng đặc biệt cần nhớ rằng năng lực, năng lượng tự nhiên dạng ẩn là vô danh, không thuộc sở hữu của cá nhân. Sử dụng năng lượng tự nhiên vào đời sống như chữa bệnh, hóa giải những năng lượng âm tính để giảm những rủi ro do các thảm họa tự nhiên, điều đó là đáng quý cho sự thực hành tình thương của bạn. Đừng bao giờ ảo tưởng rằng mình đã “ngộ” và là Đấng này Đấng kia để đi “cứu nhân độ thế”. Vì sao ư? Những người có đủ khả năng ấy luôn vô danh triệt để và họ có làm được điều này điều kia thì sẽ hành động một cách âm thầm sâu lắng. Đó là điều kiện cần và đủ cho “tư cách” của những người có khả năng sử dụng năng lượng ẩn tự nhiên vi tế. Ngày nay, có một số vị có được chút khả năng nhỏ nhoi khi sử dụng năng lượng vi tế tự nhiên đã rất vui khi được tôn vinh là “thánh nhân” hay “bồ tát” gì đó, thì cũng là tự nhiên vì chính các vị đang đóng giả các vai này để thử độ minh triết của nhân loại và xin cám ơn các vị rất nhiều.
Là nhà khoa học, tác giả bài viết này thật khó nói “không” với những hiện tượng đặc biệt, được công chúng ghi nhận, báo chí đã đăng và các nhà khoa học cần có những nghiên cứu đứng đắn, nghiêm túc để có câu trả lời cho công chúng. Bên cạnh các nhà khoa học luôn cần có các vị lãnh đạo và các nhà doanh nghiệp cùng hợp sức để phát triển nghiên cứu nhằm khôi phục lại những giá trị vô giá của tự nhiên giành cho con người để mang lại ấm no hạnh phúc cho muôn dân.

Khoảng không và năng lượng ẩn tự nhiên

Xin điểm lại những câu chuyện khoa học lý thú mà có thể bạn còn chưa biết đến. Có nhà khoa học đã mô tả khoảng không trong nguyên tử như sau: nếu hạt nhân của nguyên tử to bằng hạt đỗ thì khoảng cách từ nó đến các điện tử electoron là 5 cây số. Ở tầm mức vi mô, cái khoảng không, không có gì (zero) đó, nằm giữa hạt nhân và các điện tử kia là gì? Chức năng của nó ra sao? Và nó ảnh hưởng như thế nào đến sự cân bằng giữa hai thể lưỡng cực hạt nhân và điện tử? thì chưa được mấy ai trong giới khoa học nghiên cứu và có câu trả lời thỏa đáng. Phải chăng khoảng không đó hàm chứa năng lượng tự nhiên ẩn. Ở tầm mức vĩ mô, khoảng không giữa các hành tinh, ta tưởng là không có ý nghĩa gì lại ẩn chứa sức mạnh tự nhiên để duy trì sự sống của chính các hành tinh. Đó là kết luận của khoa học. Khoảng không bao quanh trái đất chúng ta trên 30 km, được gọi là bầu khí quyển mang vật chất vũ trụ quy định sự sinh tồn hay diệt vong sự sống trên hành tinh thân yêu này của chúng ta. Nghịch lý là con người hiện đại đang làm tổn thương nghiêm trọng khoảng không này và tự gánh chịu bằng những biến đổi khí hậu trái đất đến kinh thiên động địa. Trong tương lai khoa học sẽ tiến bộ vượt bậc nếu con người biết nghiên cứu năng lượng ẩn tự nhiên, hàm chứa trong các khoảng không trong tế bào, trong từng phân tử đến khoảng không vũ trụ, kho chứa năng lượng của sự “sinh thành - bảo tồn - hủy diệt” sự sống con người, muôn loài và cả vũ trụ nữa.
Nếu có sự hủy diệt sự sống trên hành tinh xanh này, thì khái niệm vũ trụ trở nên vô nghĩa cần được hiểu như thế nào? Sự sống dạng thể này hủy diệt là cái mầm cho dạng thể khác sinh sôi phát triển. Chắc nhân loại còn nhớ, nếu không có sự hủy diệt của thời đại khổng long hồi nào thì làm gì có cơ hội cho muôn loài ngày nay sinh sôi phát triển và tiến hóa mà trong đó có cả con người. Ngay cả nếu vũ trụ hủy diệt thì có vũ trụ khác xuất hiện. Đại càn khôn bao gồm nhiều vũ trụ. Cấu hình tư tưởng, sự hiểu biết của con người mở rộng đến đâu thì Đại càn khôn rộng đến đó. Cái gốc cho sự “sinh thành - bảo tồn - hủy diệt” của một tế bào hay vũ trụ nằm trong các khoảng không hàm chứa năng lượng ẩn tự nhiên và dường như đây là khái niệm khó vượt qua của nhân loại.
Các vị minh sư trong nhiều thời đại đã nhắc nhở nhân loại rằng: hãy trở về con số zero để có tất cả, đó là thông điệp tinh tế. Hậu duệ của các Ngài nên hiểu rằng: điều mà con người tưởng là không có gì ở khoảng không vô hình ấy lại mang lại những giá trị mới trong sự sáng tạo của nhân loại. Khi tiềm năng con người được khai mở (hiện mới có khoảng 5 % tiềm năng não bộ loài người được thể hiện) thì bạn mới có đủ năng lực sáng tạo để nghiên cứu chủ đề zero, năng lượng ẩn tự nhiên vào cuộc sống. Thật sai lầm khi có ai dụ bạn hãy buông bỏ tất cả để đi tu, để có tất cả. Tu là phát triển sự hiểu biết về bản chất của sự sống con người và muôn loài để có đời sống hạnh phúc và an nhiên tự tại. Không phải đi đâu hết, hãy đối mặt với thực tế cuộc sống, tu trong cuộc đời để có tầm nhân sinh quan và vũ trụ quan đủ mạnh, có thể giải quyết những vấn đề cuộc sống của chính bạn và rộng hơn là cuộc sống quanh ta.

Hố đen vũ trụ và sự sáng tạo của tự nhiên

Trong vũ trụ có tồn tại những “hố đen” vũ trụ. Theo báo cáo của các nhà thiên văn học, người ta đã tìm ra được 10 hố đen vũ trụ và quan sát thấy các hố đen này luôn di chuyển và mỗi khi nó tiếp cận tới hành tinh nào thì chỉ trong tích tắc toàn bộ khối vật chất khổng lồ của các hành tinh đó bị tiêu tan thành mây khói vào hố đen và tạo ra một trường lực với sức mạnh gấp ngàn lần sức mạnh của mặt trời và làm chấn động một khoảng không bao la. Vậy cái hố đen kia là gì? Tại sao nó lại hủy diệt các hành tinh? Nó ác quá sao? Đúng là cái hố đen đó đến gần hành tinh xanh này thì nó “ác” thật và cầu mong cho điều ấy không nên xảy ra. Chắc cái hố đen kia sẽ có các chức năng và điều này cần được nghiên cứu. Chức năng gì đây? Chức năng biến đổi, sáng tạo ra đời sống vũ trụ mà con người còn chưa biết đến. Gọi là “hố đen vũ trụ” nhưng nó lại không đen chút nào, vì chính nhờ cái hố đen “ăn sao” ấy mà có những hành tinh mới ra đời từ trên cơ sở các vật liệu vũ trụ “thu lượm” từ các hành tinh già cỗi, đó là kết luận của khoa học. Rõ ràng khoa học đã đặt nền móng cho tầm nhìn khoa học “đứng trên quan điểm đúng sai, ác tà để nhìn nhận sự vật, sự việc”.
Tư duy nghịch lý kiểu này xem ra khó chấp nhận, nhưng để an nhiên tự tại, không lo sợ với những nghịch lý đang diễn ra trong đời sống nhân loại và vũ trụ thì chỉ có thể là mở tầm hiểu biết chúng ta theo vòng quay của bánh xe thời gian, bánh xe vận hành vũ trụ, mới hết lo sợ và bất hạnh. Cái vô cùng ấy được dựa trên cơ sở hiểu biết và sử dụng năng lượng ẩn tự nhiên, sức mạnh rời non lấp biển của năng lượng sáng tạo. Nó không ở đâu xa mà tiềm ẩn trong não bộ của con người. Có những giả thiết khoa học cho là cấu trúc, hình dáng của vũ trụ giống như não bộ của con người và đó cũng là cách nhìn nhận lí thú về sự mô phỏng cho một cách tiếp cận mới về năng lượng ở tầm mức vĩ mô. Phải chăng người Đông Phương cổ, với triết lý siêu việt về sức mạnh tự nhiên tiềm ẩn trong tiểu vũ trụ (con người là tiểu vũ trụ) đã khám phá ra những quy luật sống ở tầm mức vĩ mô vũ trụ, càn khôn, để rồi từ khám phá ra các quy luật vận hành năng lượng vũ trụ và ứng dụng nó để xây các tượng đài viễn xưa hay các kim tự tháp, mà không có một tấc sắt, cỗ máy hay cần trục nào trong tay.
Ông Trời tuyệt vời, khi biết con người đã học được các bài học tạm gọi là nghịch lý, tìm ra ý nghĩa của nó, thì dường như Ngài cho rằng: thí nghiệm của Ngài về sự sáng tạo ra sự sống đã thành công. Cái “hố đen vũ trụ” kia sẽ vô hại với loài người sống trên hành tinh này. Tương tự như vậy, khi nhân loại tìm ra ý nghĩa của những vấn đề chiến tranh, thảm họa tự nhiên và biết cảm ơn những điều đó thì những vấn nạn ấy sẽ không còn. Đó chính là niềm tin mà tác giả vô danh và bạn đọc đang đồng hành học hỏi chia sẻ để có thể làm được một điều gì đó mang lại ấm no hạnh phúc và an nhiên tự tại cho chính mình.

Nhịp sinh học tự nhiên và sức khỏe

Niềm ước vọng hướng tới sử dụng năng lượng tiềm ẩn của tự nhiên được coi là nền tảng căn bản nhằm khôi phục lại những giá trị siêu phàm, sức mạnh vi tế của tự nhiên vào mục đích tự nhiên hóa đời sống của con người. Tự nhiên hóa đời sống con người trong thời đại ngày nay là nhu cầu cấp thiết để xóa đi những nỗi khổ khó tả đâu đó bên bạn, cho dù bạn là ai, người tiều phu hay những vị thành đạt trong xã hội. Vì sao lại cần tự nhiên hóa đời sống? Ngay từ khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất với sự ra đời của cỗ máy hơi nước, sức mạnh tự nhiên hàm chứa trong than đá và hơi nước đã được con người biết đến và ứng dụng để chạy động cơ, thì nhịp sinh học của con người đã thay đổi. Rồi sau này, thời đại văn minh tự động hóa, số hóa đã đưa nền văn minh của nhân loại sang một bước ngoặt mới với bao tiện dụng. Nhưng có đâu ngờ chính sự văn minh kỹ thuật số đang chuyển nhịp sinh học tự nhiên của bạn sang nhịp công nghiệp, nhịp số hóa mà bạn có thể không biết. Thật vậy, người thời nay dường như đang bị phụ thuộc vào nhịp sống của máy móc và các phương tiện mà mình sử dụng.
Nhịp sinh học là gì? Là nhịp sống tự nhiên của cơ thể bạn, có làm việc (hưng phấn) có nghỉ ngơi (ức chế), với ý nghĩa có thời gian để khôi phục năng lượng đã tiêu hao trong quá trình hưng phấn và quan trọng hơn là giao hòa cơ thể bạn với nhịp sống tự nhiên với khía cạnh làm tươi trẻ lại cơ thể bạn (refreshing body). Nhịp tim là biểu hiện nhịp sinh học của bạn và người hiện đại có nhịp tim cao hơn so với hằng số sinh lý, chỉ tiêu định dạng tính tự nhiên trong hoạt động của nó. Buồn hay vui thái quá, đều làm đảo lộn nhịp tim và nhịp sinh học tự nhiên của bạn. Xin bắt đầu với câu chuyện của người làm phim. Khi xem phim tình cảm của bạn gắn với các tình tiết trong phim. Phim ảnh có thể làm bạn vui, hưng phấn, thích thú và ngay sau đó, lại có thể làm bạn buồn chán, ức chế, thất vọng. Cuốn phim “vô tình” đang kiểm soát nhịp sinh học của bạn. Người làm phim, muốn phim mình bán chạy, đã khai thác, hư cấu tối đa các chi tiết trong phim và tạo ra càng nhiều những hình ảnh thu hút sự chú ý của bạn thì phim càng hay, càng bán chạy. Với kỹ thuật tạo điểm rơi tâm lý cho người xem, đạo diễn đã tạo ra những bất ngờ trong phim. Sự bất ngờ đó là mạch nguồn điểm rơi tâm lý, từ thái cực đang hưng phấn, hy vọng, sang thái cực ức chế, thất vọng và ngược lại. Khoảng cách hay biên độ giữa hưng phấn và ức chế càng lớn thì điểm rơi tâm lý của bạn càng sâu và kết quả tạo ra ấn tượng với bạn, điều khiển tâm trí bạn theo dòng hình ảnh và nhạc nền trong phim. Có ai đó nói cuộc đời này có bàn tay đạo diễn của Thượng Đế cũng là cái ý này nhưng cũng không hẳn vậy đâu bạn thân mến ạ. Thượng Đế dường như là năng lượng vi tế, năng lượng vũ trụ và dạng năng lượng này thì không thể cân đo đong đếm. Năng lượng vi tế ẩn chứa và biến thiên trong tâm hồn bạn phải chăng là năng lượng tình yêu cuộc sống, điều bí ẩn đang tỏa sáng trong bạn.

Tiếng lòng và năng lượng ẩn

Dường như với những kỹ sảo siêu đẳng của điện ảnh, các thước phim kia đang làm cho tâm hồn bạn thổn thức với thời gian. Văn hóa nghệ thuật là lĩnh vực lao động sáng tạo và những tác giả ấy được ví như “kỹ sư” tâm hồn, “kiến trúc sư” cho sức sống vi diệu của cộng đồng, quốc gia dân tộc. Ai cũng biết, một bản nhạc, một bức tranh, một tác phẩm văn học, hay một bộ phim là sự “phát tiết” trong nghệ thuật của các tác giả. Rồi còn sự sáng tạo của các ca sỹ, các đạo diễn, diễn viên và sự cảm nhận của công chúng, tất cả góp vào chiều sâu của “tiếng lòng” ta. Có một hiền triết hỏi rằng: “bản nhạc đẹp hay tâm hồn bạn đẹp?” và chính điều triết lý này giúp bạn nhận ra cái đẹp vô ngôn, huyền diệu của tâm hồn con người. Hay dở đều do cảm nhận tinh tế của tâm hồn con người và làm thế nào để văn hóa nghệ thuật, “tiếng lòng” của bạn, của các dân tộc, trường tồn mãi với thời gian là việc của mỗi chúng ta cần cùng suy ngẫm về năng lượng vi tế trong tâm hồn được giải phóng. Người xứ nào thì có “tiếng lòng” của xứ ấy và sự đa chủng tộc trên thế gian này là sự lưu giữ đa dạng “tiếng lòng” nhân loại. Các quốc gia dân tộc giống như những ngón tay trên một bàn tay, dị tật hoặc thiếu đi ngón nào, nhân loại cũng sẽ không có một bàn tay đầy đủ, một bàn tay tự nhiên mà Cha Trời Mẹ Đất ban cho.
Trở lại câu chuyện người làm phim, mỗi khi có điểm rơi tâm lý là trái tim bạn lại gia tăng nhịp đập để đồng pha, làm cho tâm hồn bạn với những tình tiết trong phim. Ít thì không sao, nhưng mê phim, ngày nào cũng xem, hết dòng phim tình cảm (love film) sang dòng phim hành động (action film) thì có lẽ bạn đã hành hạ trái tim mình, làm cho nhịp sống của bạn trở thành phi tự nhiên. Xem phim tưởng là giải trí, thư giãn nhưng thật ra chúng ta đang rơi vào cái bẫy vô hình làm thay đổi nhịp sinh học của bạn, phi tự nhiên hóa đời sống bạn. Những nỗi buồn vu vơ sau khi xem phim là điểm rơi tâm lý của bạn và làm bạn cảm thấy mệt mỏi khó ngủ chính là điểm này. Xin lưu ý rằng cấu hình tư tưởng của phim ảnh sẽ còn gõ cửa khi bạn ngủ và sáng dậy bạn cảm thấy mệt nhoài. Thế giới của nghĩ suy, thế giới của cấu hình tư tưởng vô hình, vô cùng nhạy cảm và có thể “ác ý” một cách vô tình với sức khỏe của bạn. Học hỏi, nâng tầm hiểu biết về khoa học tâm linh tạm gọi là khoa học sự sống mới (new life science) sẽ giúp bạn hạnh phúc và an nhiên trong tình yêu bất tận của Cha Trời Mẹ Đất.

Cấu hình tư tưởng “hiệu quả” và trẻ em

Vì sao trò chơi điện tử tưởng là khô khan lại thu hút và mê hoặc được lòng người đến như vậy trong thời đại hiện nay?
Ngày nay các cháu thanh thiếu niên và những người mê chơi trò chơi điện tử electronic game đang bị mắc bẫy điểm rơi tâm lý. Tính bất ngờ trong việc soạn các chương trình trò chơi điện tử là tạo ra điểm rơi tâm lý. Cái nghệ thuật đó, cái ma thuật đó nếu nói quá lời, đang thu hút hàng trăm triệu người mê hồn với trò chơi “vô công rồi nghề” dễ thương của bạn. Nhiều cháu bỏ học, trốn học hoặc thức thâu đêm để thỏa mãn điểm rơi tâm lý thông qua các phần mềm game hấp dẫn. Kết quả là các băng đĩa bán chạy như tôm tươi và các công ty truyền thông thì bội thu trong việc thu phí nối mạng vì vào thời gian khuya trong ngày họ vẫn có khách hàng. Thậm chí có cả những chương trình ti vi giới thiệu, quảng cáo những phần mềm game 3D cho các game thủ “thượng khách” của họ thì thật vô minh cho một xã hội được tự hào với “đời sống số”. Biết bao con cái của những người lao động cần lao, chắt chiu từng củ sắn hạt ngô, tích lũy cho con mình đi học, mà rồi chỉ vì cái trò tạo điểm rơi tâm lý, các trò chơi điện tử, con cái họ đã mất định hướng, trốn học, lười học, thích ăn ngon mặc đẹp, lừa dối cha mẹ để thỏa mãn cái gọi là “điểm rơi tâm lý” “bất ngờ thú vị” từ các trò chơi điện tử chết người. Từ đó, các tệ nạn xã hội “đơm hoa kết trái” từ các thế lực đen loại này.
Một sự vật hay sự việc nào đó đều hàm chứa tính tương phản của nó khi nó xuất hiện ở không gian ba chiều. Đúng là trò chơi điện tử, phim hoạt hình, truyện tranh có tác dụng kích chấn tư duy của trẻ. Cứ gọi có chín điều tốt, điều bổ ích từ các hình thức kể trên, thì có một điều tai hại chết người là kích thích tư duy hiệu quả quá sớm của trẻ. Một vị minh sư người Việt ví “trẻ con như búp trên cành” và kích thích tư duy hiệu quả xuất hiện là quá sớm với trẻ. Vì sao vậy? Tư duy hiệu quả là cái mầm cho ích kỷ, tham lam, nguồn cội của sở hữu cá nhân và “riêng tư hóa đời sống” làm cho trẻ bị xơ cứng tính tự nhiên trong đời sống. Ngoài ra, khi thức khuya chơi game (vì ban ngày bận việc hoặc trẻ con bị người lớn quản lý), đồng hồ sinh học (biological clock) của người chơi game bị đảo lộn, đêm để ngủ, mà đêm lại thức là tự vặn trái đồng hồ sinh học của mình, nhịp sinh học của mình. Nhịp sinh học đảo lộn dẫn đến sự phi tự nhiên đời sống an bình của bạn. Hậu quả khôn lường sẽ đến với đời sống thể xác và đời sống tinh thần của người chơi game vì khi chơi game bạn bị sa vào một không gian tâm linh của các thế lực đen ngoài vũ trụ và các thế lực này sẽ đánh thức “tiềm năng ích kỷ tham lam và vô cảm” của người chơi game. Nếu quan sát, bạn sẽ thấy hầu hết những người mê game, thức khuya chơi game có trạng thái vô cảm, lờ đờ, không thích gì và đúng ra chỉ thích game, thích có các điểm rơi tâm lý để được “phê”. Thật vậy trẻ ham trò chơi điện tử vì nó muốn có điểm cao (high score), trận này thua thì cố đánh ván sau để có “hiệu quả” cao hơn và cứ thế cứ thế trẻ bị mắc bẫy bởi sự bất ngờ khi chơi game, mắc bẫy tư duy hiệu quả của người lớn, mắc bẫy pháp môn “điểm rơi tâm lý” của người soạn trò chơi. Hãy vì một tương lai tốt đẹp của trẻ thơ, vì sự tiến bộ của nhân loại tương lai mà buông bỏ trò đùa game. Xin bạn hãy thương con trẻ và đó là lời thỉnh cầu của tác giả bài viết này đối với những nhà “công nghệ trò chơi”, đó là lời nhắc nhở của các bậc cha mẹ và những vị lãnh đạo văn hóa của các nước. Hãy vì một tương lai tốt đẹp của con cái chúng ta. Tạo ra điểm rơi tâm lý thái quá là làm cho đời sống của nhân loại làm cho con người trở nên vô tình vô cảm, là pháp môn của các thế lực đen ngoài vũ trụ không biết, sẽ dẫn dắt nền văn minh nhân loại đi đến đâu đây.
Trong đời sống quanh ta có nhiều điều bất ngờ thú vị và đáng tiếc là có những sáng tạo tưởng rằng giá trị, vẫn có thể vô tình làm phi tự nhiên hóa đời sống con người như câu chuyện kể trên. Đó có thể coi là những hậu quả không thể lường trước được, chứ không nên trách cứ các sáng tác gia. Sự bí mật của đời sống tình cảm luôn là đề tài để con người khám phá và thực ra nó còn trên cả cái gọi là “ma thuật” của các thế lực đen vũ trụ trong mỗi hoạt động, sự kiện của tâm hồn con người, nơi ẩn chứa kho báu của những tiềm năng.

Năng lượng âm tính (negative energy) trong nghĩ suy

Xin tiết lộ một chi tiết nhỏ để bạn cùng suy ngẫm, ngày nay một số phim ảnh được cài đặt vi tế những băng tần sóng điện vô cùng có hại cho đời sống sinh học của bạn, làm bạn mất ý chí, lười biếng, kích chấn gene bạo hành trong con người “thức tỉnh”, dâm ô và mưu toan hóa đời sống. Đó chính là những trạng thái phi tự nhiên của đời sống. Nếu người thưởng thức nghệ thuật, không đủ độ chín về văn hóa, tầm văn hóa để chọn lọc thì sẽ dễ tự phương hại đến đạo đức của chính mình và có thể cả một thế hệ bị trúng nọc độc của các thế lực đen. Nói dễ hiểu hơn với kỹ thuật “yểm”, tạm gọi như vậy, những thế lực đen đang đưa vào những cấu hình tư tưởng man rợ hoang dã của sự sống, để phi tự nhiên hóa đời sống của nhân loại. Các quốc gia giàu có dường như đã biết sử dụng kỹ thuật này để đầu độc, để đô hộ người tiêu dùng của các quốc gia khác vì mục đích kinh tế, làm giàu và chỉ đơn giản vậy thôi. Đây là một vấn đề, một nghịch lý trong việc sử dụng năng lượng tự nhiên vi tế, dạng năng lượng âm negative energy vì những mục đích không trong sáng, làm cho nền văn minh của nhân loại bế tắc. Liên quan đến chủ đề năng lượng tự nhiên dạng âm tính này có nhiều bạn đọc hỏi tác giả có chuyện bùa ngải, thư yểm hay không? Và nếu có thì làm thế nào có thể tránh được? Xa hơn liệu có cuộc chiến tranh tâm linh hay không? Đây là một chủ đề thú vị và để hiểu được đầy đủ, cần có những nghiên cứu nghiêm túc để tránh những hiểu lầm và dễ xa vào cái bẫy mê tín dị đoan.
Giả thiết về sử dụng năng lượng vô hình âm tính negative energy có thể tóm tắt như sau: “Có một dạng năng lượng tự nhiên dạng ẩn với ý nghĩa tạo ra nghịch lý, dưới dạng năng lượng âm negative energy hàm chứa trong suy nghĩ, tư tưởng của con người. Trong trạng thái bình thường của đời sống, nó nằm ở thể ẩn (un-active) nhưng khi con người ở trạng thái thù hận, ghen ghét, đố kỵ thì năng lượng vi tế này được giải phóng và tồn tại dưới dạng cấu hình đặc biệt có hại cho đời sống sinh học của cả người sản sinh ra cấu hình này và đối tượng mà họ hướng tới”.
Như vậy, vô tình hàng ngày chúng ta đang “thư yểm” nhau mà chúng ta không biết đó. Đến cơ quan làm việc, ra chợ, đi chơi, gặp người mình ghen ghét, đố kỵ, nặng hơn lại gặp đúng người mình đang thù hận, thậm chí bạn chỉ nghĩ đến những người đó, thì chỉ trong tíc tắc cấu hình tư tưởng dạng năng lượng âm tính sẽ xuất hiện. Cấu hình tư tưởng dạng này như một vũ khí, vừa mang tính chất gây chiến vừa mang tính chất bảo vệ bạn. Khi bạn gặp người bạn ghét kia, có khi bạn vẫn bắt tay hay nở nụ cười xã giao với đối tượng, để cố che đi cái “vũ khí” chết người kia. Hậu quả của dòng năng lượng vi tế thể âm này sẽ ra sao? Bạn và đối thủ của bạn sẽ lâm vào trạng thái nặng nề, ê chề khó tả. Tất cả các hưng phấn cho dự định làm việc vào lúc ấy bị đè nặng.
Đố kị, ghen ghét, tức giận và hận thù chẳng giúp bạn được điều gì chỉ làm cho bạn đau khổ vu vơ không lý giải được và hậu quả làm suy kiệt quỹ năng lượng trong bạn. Khoa học đã chứng minh rằng các nội tiết tố adrenalin và cortisol luôn cao đối với những người có các phản ứng tâm lý kể trên. Các chất nội tiết này làm gia tăng nhịp tim, huyết áp và thậm chí “bào mòn” quỹ protein trong cơ thể bạn để làm tăng nồng độ đường huyết glucose của bạn. Những người có đặc tính này khi ngủ thường gặp ác mộng, vì các thế lực đen ngoài vũ trụ (năng lượng âm tính) luôn “cổ vũ” kích chấn, nuôi dưỡng lòng hận thù trong bạn. Tác giả bài viết này, chưa thấy ma quỷ bao giờ và mỗi lần lâm vào cái bẫy của các thế lực đen này thì tâm hồn như bị chúng sai khiến.

Bạn sẽ hỏi tác giả rằng khi người bị hiểu lầm thì người ấy có nhận được năng lượng âm tính trong suy nghĩ của người phát ra nó không? Nếu bạn bị đố kỵ, ghen ghét, trả thù nhầm hay nói đúng hơn là tâm hồn bạn trong sáng và thành tâm với người hiểu lầm bạn thì vô hại. Vì đã có “lực lượng sáng”, năng lượng thuần dương, tạm gọi như vậy bảo vệ bạn và đó dường như là luật tự nhiên. Người Việt Nam có câu nói dễ thương “cây ngay không sợ chết đứng”. Đó chính là niềm tin cuộc sống không chỉ của con người và muôn loài. Tuy nhiên, nếu bị hiểu lầm mà bạn lại mất bình tĩnh, phản ứng lại người gửi suy nghĩ xấu đến cho bạn thì tự bạn đã chuốc lấy, tự đưa tay đón nhận năng lượng âm tính phát ra từ người kia mà bạn không biết. Hãy tự sự với với lòng mình xem trong cuộc sống hàng ngày bạn có bao lần như vậy để có giải pháp tự thoát khỏi cái năng lượng âm tự sinh trong cấu hình tư tưởng khốn khổ này.
Bạn đang cùng tôi tâm sự những vấn đề nhạy cảm trong đời sống tâm linh và có thể bạn nhắc lại với tác giả rằng: liệu có cuộc chiến tranh tâm linh không? Ở cõi vô hình làm gì có chiến tranh. Nhưng khi bạn nghĩ có điều đó, thì một cấu hình tư tưởng mang khuôn mẫu “chiến tranh tâm linh” xuất hiện, phát ra trong dòng suy nghĩ của bạn. Nhiều bạn nói lại với tác giả rằng: vùng này, vùng kia, nước này nước khác, có những vị phù thủy giỏi đã “yểm” gia đình, cộng đồng, xã hội, dân tộc bạn để làm lụi tàn nguyên khí ở quê hương bạn. Điều đó thật thú vị. Ông Trời công bằng lắm, năng lượng vi tế trời đất gọi là nguyên khí là có thật, tụ chứa đâu đó được gọi là “long mạch” đã được các nhà tâm linh từ xa xưa biết đến. Tài sản năng lượng vi tế của trời đất, năng lượng vũ trụ là của chung nhân loại. Nhân loại là con cái của Đấng Tạo Hóa và nếu có hiện tượng này thì Trời Đất sẽ tự cân bằng hóa giải, bằng cách ủy thác cho những con người nào đó, bằng da bằng thịt giúp nhau xóa đi cái cấu hình tư tưởng hận thù này. Tôi tin như vậy.
Khi phá được “bùa” thì lại xuất hiện sự tái trả dòng năng lượng âm tính ấy cho người đã sinh ra nó. Ai gánh chịu đây? Hỏi các vị phù thủy sẽ rõ. Những ai làm việc ác luôn trong trạng thái lo sợ khôn cùng vì “nó lú nhưng chú nó khôn”. Có nghĩa là hại người thì có ngày có kẻ độc ác hơn hại lại. Lòng tôi chợt nhớ tới lời người xưa nhắn gửi “lưới trời lồng lộng”. Ý nói kẻ ác có thể ranh mãnh che dấu tội với nhân loại, nhưng ông Trời thì không. Vì miếng cơm manh áo hay vì một điều gì đó mà phải làm bùa ải, thư chú người khác, thì đồng nghĩa với nguy cơ bị chính điều ác ấy hại mình. Người Việt Nam xưa đã từng nhắc nhở “hại nhân, nhân hại”,“ gieo gió gặp bão”, tưởng là cao tay, ngờ đâu Trời Đất lại cử người cao tay hơn hóa giải và “trả món quà” ấy cho bạn.
Giả sử có quỷ ác thật, nếu tâm hồn bạn trong sáng, thanh tao thì bạn vẫn chẳng thể thấy quỷ được. Vì sao ư? Vì chính dòng năng lượng trong tư tưởng trong sáng của bạn đã giúp quỷ về với khối sáng vũ trụ, tạm gọi như vậy. Trong chiến tranh có rất nhiều vị anh hùng với tấm lòng yêu nước, thương dân trong sáng, đứng trước giây phút tử hình vẫn an nhiên tự tại và đã gửi vào “bộ nhớ vũ trụ” một thông điệp bất tử về tình yêu cuộc sống. Đứng trước cái chết mà vẫn an nhiên tự tại, thì chỉ có thể là là những người có niềm tin mãnh liệt, chứa chan vào đời sống hiện tại vĩnh hằng, niềm tin và lòng mong mỏi được tái kiếp để có thể trở lại giúp dân, giúp nước, giúp nhân loại tiến hóa.
Màu xanh của đất trời, màu xanh của quê hương, màu xanh trong mắt ai, màu xanh bất tận ngập tràn trong tâm hồn ta đó là niềm tin nặng tình Mẹ trong ta.
Đ.V.T (còn tiếp)
__________________
Hạnh Phúc thay ! Mỗi sớm mai thức dậy,lại có thêm một ngày để yêu thương .
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 2 người đã gửi lời cảm ơn đến tuanvu_quynh1949 vì bài post hữu ích này:
Luciola (24-01-2012), Nhat nguyen (17-01-2012)
Old 25-01-2012, 5:04 pm  
tuanvu_quynh1949
Senior Member
 
tuanvu_quynh1949's Avatar
 

Default
KHOA HỌC TÂM LINH NHÂN ĐIỆN.

LỜI TỰ SỰ CỦA MEKONG.

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG (tt)

(huynh cho phép T.V đăng lên đây ,chi sẽ cho ace trên diễn đàn thay lời chúc mừng năm mới,và tưỡng nhớ đến Thầy mến yêu .)



Chương 4


ĐÓN NHẬN SỰ THAY ĐỔI ĐỂ TIẾN HÓA



Có một câu nói của một hiền triết Phương Đông rằng “Hãy đưa những điều tốt đẹp vào tâm trí để những điều dở không còn chỗ chứa trong bạn”. Đây là một chủ đề, một kỹ thuật siêu đẳng giúp tự nhiên hóa đời sống con người. Bài viết này như một món quà nhỏ xin được tặng những ai đã sẵn lòng học hỏi và ứng dụng những chân lý đơn giản vào cuộc sống với thiện tâm làm giàu tính tự nhiên trong tâm hồn mỗi chúng ta nhân dịp đầu xuân 2010, năm thế giới tiếp nhận sự thay đổi toàn diện. Sự hiểu biết mình đang làm gì và ý nghĩa của từng việc ta làm sẽ giúp cho lòng ta luôn thanh thản và yêu đời. Sẵn sàng học và hiểu được ý nghĩa của việc làm tuy đơn giản nhưng phần đa nhân loại lại không làm được điều ấy trọn vẹn. Đón nhận sự thay đổi để tiến hóa chứ không chỉ đơn thuần là chấp nhận sự thay đổi, đó cũng là cách nghĩ mới trong sự hiểu biết.

Thay đổỉ và tiến hóa

Theo sự hiểu biết của khoa học, nhân loại đã có 20 triệu năm phát triển tiến hóa và điều đó được hiểu là người thể đặc. Thực ra Ngài đã sáng tạo ra sự sống nhân loại từ khoảng 4 tỷ năm về trước khi trái đất hình thành. Dạng thức sống ban đầu là người thể sóng, người tiền sử thể sóng, người chi có linh hồn và không có thể xác. Vì vậy người thể sóng hoàn toàn tự do không bị lệ thuộc vào vật chất và khả năng di chuyển nhanh như suy nghĩ của người thể đặc ngày nay. Thực ra tốc độ ánh sáng cũng quá chậm so với tốc độ tư tưởng của bạn. Bạn là những đứa con thân yêu nhất và Ngài đã ban cho làm người, biết suy nghĩ và tốc độ di chuyển của suy nghĩ, của cấu hình tư tưởng nhanh hơn cả ánh sáng. Thật may mắn cho chúng ta đã được làm người và là người ai cũng như ai, đều tiềm ẩn khả năng tuyệt vời này. Nhiều khi do chưa cập nhật sự hiểu biết về dạng thể sóng của tư tưởng, suy nghĩ, nên bạn cứ quan tâm những điều gì đó cao siêu ở bên ngoài mà lãng quên điều kì diệu ở chính trong tâm hồn và cơ thể bạn. Thật vậy, khi bạn nghĩ tới quê nhà hay mặt trời là lập tức cấu hình tư tưởng bạn có ngay ở đó. Người ta gọi người thể sóng là người Thiên Thần là vậy. Nếu bạn muốn làm người thể sóng cũng không khó. Hãy tập thiền, đơn giản là không bị các suy nghĩ khác xen vào tư duy của bạn và hãy nghĩ tới nơi bạn cần đến bằng tư tưởng và chỉ trong tích tắc bạn sẽ tới nơi. Cấu hình tư tưởng của bạn rộng đến đâu thì vũ trụ này rộng đến đó. Bạn thực sự là người thiên thần mà bạn không biết.
Có một câu nói của tiền nhân rằng “nếu có sự hiểu biết về bản chất của sự sống đầy đủ thì bất cứ ai cũng là những ông hoàng bà chúa” chính là ở cái ý này. Một vùng rộng lớn của Việt Nam, hạ nguồn của sông Mê Kông sẽ là nơi sinh thành nền văn minh mới của nhân loại. Đây là nơi đất thiêng, ẩn chứa nguyên khí trời đất và thời kỳ hiện nay, theo như những tiên tri cho biết là thời điểm các “Long mạch” ẩn chứa nơi đây sẽ phát quang để đón chào một sự thay đổi tiến hóa mới của nhân loại. Long mạch phát quang cũng là do cấu hình tư tưởng của con người quán tưởng mà ra, nhưng cứ tạm gọi như vậy để dễ hiểu vì ngôn ngữ chật hẹp.
Người Việt Nam, dân tộc Việt Nam sẽ đi đầu xây dựng một nền văn minh mới của nhân loại trong chu kỳ mới của vũ trụ. Thiên tử xuất là thời kỳ này, thời kỳ có nhiều biến động thay đổi. Thiên tử, tạm gọi là con Trời Đất, với tư tưởng phóng khoáng, hiểu biết uyên thâm, yêu tự nhiên và yêu con người. Không phải là lạc quan “tếu” nếu chúng ta có thể nói những người hiểu biết tầm “trên thông thiên văn, dưới tường địa lý” là thiên tử cũng được và không chỉ có một thiên tử ra đời, mà là cả một giống dân mang gene mới của Ngài, gene minh triết. Chúng ta ai cũng là sản phẩm tự nhiên của Cha Trời Mẹ Đất. Mỗi chúng ta đều có thể là Thiên Tử nếu chúng ta sẵn sàng học, biết học, biết tu đúng cách, tu tâm dưỡng tính, và biết đón nhận thay đổi để tiến hóa.
Một số người có được những thông tin đâu đó về ngày tận số của trái đất. Điều này là có thật. Theo những hiểu biết của khoa học thì 7 tỷ năm nữa Thái dương hệ sẽ tận số. Mặt trời sẽ trở thành một “con quỷ” khổng lồ thiêu đốt không chỉ trái đất mà cả thái dương hệ, gọi là hệ mặt trời. Kích thước của mặt trời tới ngày đó sẽ lớn gấp 160 lần, nhiệt độ tăng lên tới 20.000 lần hiện nay. Và sau khi thiêu đốt thái dương hệ thành tro bụi thì mặt trời cũng vĩnh viễn biến mất. Thái dương hệ cũng sẽ chỉ là tro bụi, vật liệu của vũ trụ. Thật quá sớm khi nói đến ngày tận số đó và hãy vững tin vào chính mình, con người đang sử dụng cấu hình tư tưởng mà tốc độ của nó nhanh hơn tốc độ ánh sánh triệu triệu lần. Xin lưu ý rằng: thời gian không phải là đại lượng biến thiên đều đều như ta tưởng, mà thời gian cũng co giãn, nhanh chậm khác nhau tùy vào sự vận hành của Ngài. Bảy tỷ năm hay một ngày cũng giống nhau, khi mà Ngài điều khiển “co giãn” theo lộ trình tiến hóa của Ngài. Con người còn hiểu biết quá ít về chiều thứ tư, chiều thời gian và mọi khái niệm được nói ở đây có thể là trừu tượng khó hiểu. Nhưng có điều dễ hiểu xin bạn đừng từ chối và xin nhắc lại: khi bạn nghĩ tới đâu thì tư tưởng bạn bay đến đó tức thời. Muốn tự do thật sự hãy sử dụng công cụ này. Bạn có bảo bối trong tay và hãy học cách sử dụng nó cho hạnh phúc của bạn và muôn loài. Đây là điểm mới chưa được ai đề cập tới trước đây.
Khoa học cũng cho biết cứ 23 triệu năm thì trái đất bay vòng quanh vũ trụ một lần và thời gian hiện thời trái đất đang bay vào khoảng rủi ro nhất, nơi có nhiều thiên thạch to nhỏ đủ loại và nguy cơ va chạm vào trái đất khá cao. Các dấu hiệu va đập của thiên thạch cho thấy: Mặt Trăng và đặc biệt là Sao Mộc đã nhiều lần cứu trái đất, làm bia đỡ cho trái đất, bảo vệ trái đất được nguyên vẹn đến hôm nay. Từ trường sao Mộc gấp cả ngàn lần trái đất nên nó như là vật thu góp các thiên thạch, các bụi vũ trụ khi bay vào Thái dương hệ. Nếu bạn có đức tin hãy thờ sao Mộc và chị Hằng vì nhân loại đã chưa từng ai thờ các Đấng bảo vệ này. Thật tội, chỉ thấy con người thờ phượng nhau thôi. Ấy là chưa kể thờ phượng những vị ra quyết định gây chiến tranh, bạo động trong các cộng đồng thế giới để muôn dân đầu rơi máu chảy. Nhà tôi có trồng một cây hoa mộc, hương thơm đượm chất trời đất và cứ mỗi lần thưởng thức hoa mộc tôi thầm nhớ tới ngôi sao xa xăm ấy đã che chở cho hành tinh này được sống. Những điều khoa học khám phá và phát hiện còn hơn cả vĩ đại, nhưng điều sai lầm đang tiếc là khoa học vẫn coi các hành tinh, vũ trụ này như vật vô tri vô giác và mặc sức khai thác sử dụng.
Nếu trái đất bị hủy diệt thì nhân loại tạm chuyển từ người thể đặc hiện nay sang người thể sóng (thể linh hồn) một thời gian và khi đó sản phẩm sáng tạo tuyệt vời này sẽ phát tán đi khắp thiên hà để nền văn minh con người sống mãi với không gian và thời gian. Năm thành tố tự nhiên: đất, nước, lửa, gió và con người là vĩnh hằng. Hiện tại trái đất đang có đủ 5 thành tố này và xin hãy vững tin ở một tương lai tươi sáng cho 7 tỷ năm tới. Mở rộng ra trong vũ trụ này thì ở đâu có 4 thành tố tự nhiên đất, nước, lửa, gió thì ở đó sẽ có sự sống và sự sống tiến hóa nhất là con người. Hiện nay các tôn giáo đang có cơ phát triển vì sự thay đổi đã đến và tất cả những tiên tri này, tiên tri kia chỉ mang tính tham khảo. Tương lai ngày mai thì chưa biết, hôm nay hãy sống thành tâm, tử tế thì sẽ có ngày mai tươi đẹp.
Thay đổi là món quà vô lượng mà con người khải nhận từ Ngài, Đấng Tự Nhiên anh minh, toàn năng, toàn thiện để nhân loại và muôn loài đồng hành tiến hóa. Thay đổi là động lực thúc đẩy sự tiến hóa đối với bất kỳ đối tượng nào trong đại càn khôn. Nhờ có sự vận hành không ngơi nghỉ và đượm tính tự nhiên của Đấng Tạo hóa, Đấng sinh thành ra Đại càn khôn, mà các loài sinh vật tiến hóa không ngừng tạo ra những cấu trúc sống đa dạng, muôn màu và vi tế vô ngần. Hình thái của sự sống cũng đa dạng đa hình, từ sự sống người thể sóng, đến thể khí, rồi thể lỏng và cuối cùng là người thể đặc, người ba chiều ngày nay. Các dạng thể đó là những thí nghiệm sáng tạo của Thượng Thiên, để hoàn thiện sự sống trên hành tinh xanh này của Ngài. Nếu chúng ta tin được là có người thể sóng thì cho dù có vật đổi sao rời cũng không thể hủy diệt được sự sống. Đối với ngôn ngữ và tư duy mới của giống dân thứ sáu, thì không có khái niệm “sinh thành-bảo tồn-hủy diệt” mà thay bằng khái niệm triết học mới “sự thay đổi tiến hóa”.
Nhân loại đã nhầm khi hiểu về chữ hủy diệt nên đã thất vọng về những gì đang sảy ra trong lần đại tạo của Ngài hiện nay. Cũng từ đó mất niềm tin vào Thượng Đế. Có người còn cho rằng mọi sự là kịch bản của Ngài và Ngài đích thực ác tâm đã tạo ra bão tố, sóng thần và các thảm họa tự nhiên hủy diệt nhân loại. Một trường phái khác thì cho rằng Ngài đã bỏ trái đất này từ lâu và nhường quyền quản trị trái đất cho Ma vương. Vì vậy ở Anh quốc có một cộng đồng tôn giáo hàng vạn người thờ quỷ vì họ cho rằng: tốt nhất là thờ phượng quỷ để nó nể tình không làm hại người. Ngẫm cho kỹ, ta thấy nhóm người thờ quỷ này, đáng yêu vì tư duy thực dụng, bộc trực nên họ dám thờ quỷ. Ngày nay do hiểu biết u minh nên cũng có biết bao người lầm tưởng thờ phật thánh tiên, nhưng họ không hiểu đầy đủ ý nghĩa thờ phượng nên có khi họ cũng giống cộng đồng thờ quỷ kia, nhưng họ chỉ khác ở chỗ là không biết mình đang thờ ai.
Có sự hủy diệt chứ! Nhưng 5 thành tố tự nhiên thì không thể và thể sóng, thể linh hồn của con người thì bất diệt. Xin được nói điều này với tình yêu cuộc sống thiết tha.

Giống dân thứ sáu

Sự vận hành của tự nhiên luôn sáng tạo và sáng tạo ngày càng tinh vi huyền diệu hơn. Kết quả của sự thay đổi tiến hóa của vũ trụ đã làm cho con người nhiều khi không thể hiểu nổi những gì đang diễn ra trong giai đoạn hiện nay. Thế hệ đầu tiên của giống dân mới, giống dân thứ sáu đã ra đời từ khí thiêng của Trời Đất trong thời kì này. Những thành trì của thế lực đen ngoài vũ trụ và của cả trái đất này nữa đang thay đổi tiến hóa theo lộ trình sáng tạo vĩ đại của Ngài. Ở tầm mức vĩ mô, hàng loạt các hành tinh mới ra đời từ vật liệu vũ trụ và cũng có nhiều hành tinh già cỗi bị tiêu biến và trở thành nguyên liệu vũ trụ. Trong xã hội loài người thời nay, nhiều khả năng đặc biệt của con người đang xuất hiện và đón nhận sự thay đổi như là một xu thế không thể đảo ngược. Nước Hoa Kỳ có vị tổng thống gốc Phi mới và chủ tịch Đảng Cộng Hòa đối lập cũng là người gốc Phi. Đó là những biểu hiện đổi gió mới của nền dân chủ thế giới. Các nghiên cứu mới về nguồn năng lượng thay thế alternative energy để thay thế dầu mỏ đang triển khai với tầm mức và quy mô toàn cầu và đang mang lại hy vọng mới cho nhân loại. Không có sự thất bại mà chỉ có bài học và không có thành công mà chỉ có thành nhân, nhân loại mới. Với tinh thần triết học đó nhân loại mới ra đời.
Con người mang đặc tính vũ trụ, mà triết học Đông Phương gọi là tiểu vũ trụ. Cảm nhận sự thay đổi vũ trụ thì khó, nhưng cảm nhận sự thay đổi của tiểu vũ trụ, của chính mình thì ai cũng cảm nhận được. Bạn đã có thay đổi gì trong cơ thể, thì đó là những sắc thái biến đổi của thiên nhiên, trời đất, mà ở một khía cạnh nào đó bạn đang thấy, thấy rõ bởi chính mình. Bạn thấy vui vẻ hạnh phúc hay buồn tủi, bất hạnh thì đó cũng là những trạng thái mà bạn cảm nhận được từ những kích chấn sao chép copy về cái thần của sự thay đổi đang diễn ra ở cõi lòng bạn, ở nơi gần mà lại xa xăm ấy. Tôi muốn nhắc lại để chúng ta cùng suy ngẫm về khái niệm, thể sóng sinh học đặc biệt, linh hồn “xa mà rất gần”. Vì sao nó xa? Vì nó đi với tốc độ siêu ánh sáng, nhưng nó lại gần vì luôn ẩn trong ta.
Thời điểm hiện nay trong vũ trụ đang diễn ra sự giao hòa kỳ diệu của “vật liệu sống” và “sức sống”. Bạn chỉ cần tĩnh tâm lắng nghe và đối thoại với chính tâm mình sẽ biết được sự giao thoa của hai nguồn năng lượng sáng-tối, trắng-đen, đúng-sai, thiện- ác. Đây là sự sắp xếp trật tự mới của các thành tố sống để người thể đặc, cấu trúc lưỡng cực của hai mảng tương phản được hài hòa cân bằng.
“Vật liệu sống và sức sống” là cặp khái niệm mới thay cho cặp khái niệm “đời sống vật chất và đời sống tinh thần”. Đời sống vật chất và đời sống tinh thần được định giá trị theo những khuôn mẫu do con người đặt ra nên nó luôn thay đổi theo các thời đại khác nhau. Mỗi thời đại khung giá trị ấy lại thay đổi và đích thực đó là khái niệm ở không gian ba chiều. Thay khái niệm “đời sống vật chất” thành khái niệm mới “vật liệu sống” và khái niệm “đời sống tinh thần” bằng khái niệm “sức sống” thì cặp khái niệm mới này vĩnh hằng, không chịu ảnh hưởng của chiều thứ 4, chiều thời gian. Vì sao? Vì thời đại nào cũng vậy, con người cần ăn cần mặc, cần những phương tiện sống và gọi chung là vật liệu sống. Thời đại nào con người cũng cần sung sướng và hạnh phúc và gọi chung là sức sống. Cái được gọi chung là “vật liệu sống” và “sức sống” ấy là bất khả tư nghị, thời nguyên thủy cũng như thời hiện đại. Đây cũng là điểm mới giúp chúng ta thanh thản, yêu đời và có thể ứng dụng vào đời sống thường nhật. Ý nghĩa của câu nói: túp lều tranh (vật liệu sống) và hai trái tim vàng (sức sống) thật thâm sâu. Sự giao hòa giữa vật liệu sống và sức sống chính là điểm này. Hiểu biết sẽ giúp bạn hài hòa với cuộc sống vi diệu và nếu biết học, ai cũng có thể là những ông hoàng bà chúa chính là ở điểm này.
Khi đã vượt ra được chiều thứ 4 về khái niệm triết học, thì giống dân thứ 6 dường như đã tiếp cận với chiều thứ 5. Khi đó thuyết tương đối hay thuyết tuyệt đối cũng chỉ là một. Nếu chúng ta còn sợ chết, có nghĩa là chúng ta chưa nhận ra yếu tố người thể sóng trong ta, mà các ngôn ngữ truyền thống gọi là linh hồn, hay đơn tử sống, hay thành tố tự nhiên ẩn chứa trong ta. Và cái chết sẽ đến một cách đau đớn và khổ sở. Còn nếu chúng ta không sợ chết và có sự hiểu biết mới về người thể sóng, ẩn chứa trong ta, thì cái chết thể xác là ngày đại hỷ của riêng bạn. Bạn đâu có chết vì thể sóng sinh học đặc biệt trong bạn sẽ tự do tiếp tục cuộc hành trình thay đổi tiến hóa trong hai hoàn cảnh: có thể không cần thể xác (những băng tần cao cấp gần giống với tự nhiên, thiên thần) hoặc có thể tái kiếp sang những thể xác mới có hoàn cảnh mới để giúp bạn dễ dàng học hỏi. Thể xác già nua hay thể xác với hoàn cảnh kẹt riêng của bạn trở thành vật liệu sống. Sức sống của riêng bạn là vĩnh hằng.
Sự thay đổi đó có thể thấy được không chỉ từng cá thể mà còn ở tầm mức xã hội và nhân loại. Trời đất chuyển mình, khí hậu thời tiết “khùng điên”, động đất, sóng thần, núi lửa xuất hiện dồn dập. Lòng người bất an, so lắng, suy tư, sợ hãi. Não bộ, cơ quan chỉ huy cao nhất trong cơ thể bạn đang suy thoái chức năng do sự quá tải thông tin nhiễu, bởi vì đọc 10 tờ báo, tìm mãi không ra bài báo mang niềm hy vọng. Não bộ suy thoái còn là kết quả của sự số hóa đời sống do các chương trình điện toán từ Internet đến các chương trình tự động hóa được ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống. Cái máy thì hai giờ sáng hay ba giờ chiều, chỉ cần mở máy là nó làm việc với công suất như nhau. Con người thì khác cỗ máy, chịu sự chi phối của đồng hồ sinh học bioclock theo nhịp điệu tự nhiên. Sức người, con người không phải là cái máy và hãy thương mình và đừng biến mình thành cái máy. Thế mà ngày nay người ta đang tự hào về nền văn minh “đời sống số” thì thật đáng thương cho số phận của con người. Cần nói thêm rằng, não bộ điểu khiển và hiệu chỉnh nhịp sống một cách tinh vi, tạo ra sự thay đổi uyển chuyển nhịp nhàng các hành động sống theo nhịp điệu tự nhiên. Xin hãy tự nhiên hóa đời sống của mình để an nhiên tự tại. Đời sống công nghiệp, tự động hóa, số hóa vô hình dung làm não bộ vốn năng động sáng tạo nay “chây lười” và dần dần thoái hóa “đần độn”. Những dạng bệnh mới về não bộ được biết đến là bệnh tâm thần phân liệt xuất hiện ở phần đa nhân loại với các biểu hiện khác nhau. Nhẹ thì buồn vui lẫn lộn vu vơ (hiệu ứng giao thoa sáng tối), nặng thì có thể chập cheng, lẩn thẩn.
Giống dân thứ sáu là gì? Đó là những con người bằng da bằng thịt, sống hiền lành, tử tế, đơn giản mà nồng thắm lòng nhân ái vị tha với tự nhiên, con người và muôn loài. Giai đoạn đầu của quá trình hình thành nhân cách sống mới, những công dân mới này được sự độ trì của dòng năng lượng vũ trụ, vi tế siêu đẳng từ nguồn sáng tự nhiên được biết đến với khái khái niệm “đầu thai tái kiếp” của các Đấng đã tu học nhiều đời nhiều kiếp ở vùng Núi Tuyết, đầu nguồn của dòng sông Mê Kông đổ về chín cửa Cửu Long ở lãnh thổ Việt Nam. Trục tâm linh mới của nhân loại đã được hình thành và nó gắn với dòng sông tuổi thơ của nhiều vị học thức uyên bác và ẩn danh, mang về cho thế giới những dòng năng lượng mới, sức sống mới, tư tưởng mới và hy vọng mới về một nền văn minh phát triển vượt bậc. Nền văn minh ấy được biết còn cao siêu, vi tế hơn tất cả những gì mà trí tưởng tượng con người có thể vươn tới, nhưng nó lại rất đơn giản chỉ là nền văn minh tâm linh sử dụng năng lượng ẩn tự nhiên với các phương tiện sống đơn giản và giàu tính tự nhiên ngay trong từng hơi thở.
Giống dân thứ sáu ra đời trong hoàn cảnh nào? Lịch sử khoa học đã cho thấy, nhờ hiểu biết sâu sắc về khái niệm không gian 3 chiều (dài, rộng, cao) nhân loại đã thấy mình là “vật chất” biết tư duy, biết sử dụng ngôn ngữ lời nói, có chữ viết và mọi vật thể objective đều có thể cân đo đong đếm định lượng, phân tách và tổng hợp được. Giải mã bộ gene người, làm nhân bản vô tính để tạo ra con người và các loại sinh vật khác không cần cách sinh sản truyền thống. Nền văn minh vật chất với sự “độ trì” của dòng năng lượng siêu tinh vi của vũ trụ, được biết đến đó là sự “tái kiếp” của các vị đã tu học ở đẳng cấp cao, biết sử dụng các “ma thuật” để chủ động biến đổi vật chất. Trường phái của các vị này là “cái mới được hình thành từ sự biến đổi vật chất và con người có thể chủ động biến đổi vật chất để sáng tạo ra cái mới”. Xu thế xa rời tự nhiên, coi tự nhiên như tải sản vô tri vô giác mà con người muốn làm gì, sử dụng khai thác tùy ý nở rộ như nấm gặp mưa đầu mùa trong rừng. Kết quả là các nhà khoa học rơi vào “ma trận” không có lối thoát. Ai đã lôi các khối năng lượng hóa thạch từ lòng đất lên để thả “quỷ” về hạ giới thì chúng ta biết rõ. Bầu khí quyển đã đầy quỷ dữ, khí thải công nghiệp gây hiệu ứng nhà kính làm trái đất nóng lên.

Vì sao con người lại sợ hai chữ tâm linh?

Cạnh nhà tôi có một nhà nuôi khỉ và treo một cái gương lớn gần chuồng khỉ. Một lần tới chơi nhà bạn, tôi có dịp quan sát tập tính soi gương của con khỉ. Bình thường thì không sao, nhưng mỗi khi chú khỉ quay về phía cái gương lớn thì nó cứ nhảy rống lên như bị mất hồn. Một số loài động vật khác cũng vậy. Thật dễ hiểu đối với con người, ai cũng biết đó là cái bóng, cái ảo ảnh phản xạ của cái gương chứ không phải là một con khỉ khác trong gương. Con người cũng vậy, khi nói đến tâm linh là lại sợ vì từ này gắn với linh hồn, cô hồn, ma quỷ và đủ các loại khái niệm tương tự nên ai cũng sợ. Cũng giống như con khỉ, do không thể hiểu nổi khái niệm cái bóng, cái ảo ảnh trong gương nên khiếp sợ. Muốn hết sợ, chúng ta phải tiếp cận và học được bài học tâm linh và cơ hội tiến hóa sẽ mở ra. Tâm linh là những điều, những cảm nhận thiêng liêng vô hình từ trái tim, từ bản thể của sự sống trong ta.
Nhân loại xưa và nay khi nói về con người đã cố phân biện một thực thể sống, con người thành thể xác và linh hồn, mà thực chất nó chỉ là một. Thực thể sống này vô cùng sinh động và biến hóa khôn lường và tư duy của con người không theo kịp. Mỗi sự kiện diễn ra đối với con người đều mang dấu ấn tự nhiên. Nhưng não bộ con người có xu thế ghi chép, tổng kết và thậm chí còn cố mô phỏng nó theo nhiều cách khác nhau. Phải chăng linh hồn cũng là sự hư cấu của não bộ. Não mộ con người như một cái máy ghi chép lại những sự kiện của quá khứ. Và ngày mỗi ngày các sự kiện đó cứ tích lũy và làm các sự kiện chồng chất trong não bộ. Não bộ hết chỗ chứa và con người không còn đủ bộ nhớ để tiếp thu cái mới. Để thoát khỏi tình trạng ư bế thông tin quá khứ dưới dạng các kí ức, một cách tự động vào ban đêm các giấc mơ được hình thành để xả các thông tin này đi, giải phóng não bộ. Có lẽ do những thiếu sót mang tính hệ thống, nguyên khởi trong tư duy error thinking system này đã làm cho phần đông nhân loại nghi ngờ về sự tồn tại của thực thể sống tâm linh, tạm gọi là phần người thể sóng. Trên thực tế, trong một thời gian dài hai chữ tâm linh và linh hồn đã được dùng và gắn với những khái niệm thánh thần, ma quỷ làm cho công chúng khi nghĩ tới các khái niệm này thì thấy sợ hãi hoặc nghi ngờ. Chuyện con khỉ sợ cái bóng mình thì thật vô minh.
Trở lại khái niệm thể xác và linh hồn, thì nhân loại nên nhận thức đầy đủ rằng: thể xác ai cũng như ai phải tuân theo quy luật “sinh lão bệnh tử” tạm gọi như vậy, còn linh hồn vốn là thành tố tự nhiên, trường tồn với thời gian và chỉ mượn thể xác để thể hiện và làm sinh động bản chất tự nhiên, bản chất vũ trụ trong các thể xác. Thể xác hư hoại, linh hồn trở về với bản chất tự nhiên của nó và tiếp tục cuộc vận hành năng lượng trong các thể xác khác hoặc tồn tại trong tự nhiên dưới dạng những băng tần siêu sóng điện. Các vị minh sư quá cố nếu sống lại đều rất ngạc nhiên không thể hiểu nổi vì sao nhân loại lại tôn thờ các Ngài vĩ đại như vậy. Bản chất thật của các vị đã chứng ngộ đều rất đơn giản, khiêm nhường và cái danh không có ý nghĩa với các đẳng cấp tâm linh.

Linh hồn và thể xác một cách tiếp cận mới

Nếu thể xác con người được coi là cái nhà thì thành tố tự nhiên mà người đời gọi là linh hồn như những ngọn gió thường xuyên thổi vào trong nhà, để ngôi nhà luôn thông thoáng, mát mẻ và giàu tính tự nhiên. Bạn biết đấy ngôi nhà thì dễ bị hư hỏng xuống cấp và bị mục nát theo thời gian, còn ngọn gió thổi vào ngôi nhà thì không bao giờ mất, trường tồn với thời gian. Bạn thường nhận “cái ta” là ngôi nhà, mà ít người nhận ra ngọn gió ra vào nhà bạn. Cái có thể bạn không nhận ra ngọn gió vô tình ấy, lại chính là phần quan trọng vĩnh hằng của bạn. Thật vậy, thể xác giống như ngôi nhà sẽ phải lụi tàn. Ngọn gió không thấy được nhưng không bị hủy diệt, vì ngôi nhà này đổ nát, thì gió lại tiếp tục bay đến ngôi nhà khác để tiếp tục cuộc hành trình bất tận của nó. Nhờ có ngôi nhà (thể xác) mà ngọn gió (linh hồn) có nơi nương tựa mà ra vào vô tư, đưa những thông điệp tự nhiên vào ngôi nhà. Ngôi nhà nhờ có ngọn gió mà sinh động, tự nhiên, giàu sức sống và luôn trong lành.
Cũng cần nói thêm rằng ngôi nhà khi mới xây, xinh đẹp nên được người ngoài để ý tới và ai đi qua ngôi nhà cũng trầm trồ khen ngợi. Chủ nhà lúc đầu thấy vinh hạnh vì mình thì cũng bình thường, nhưng nhờ xây được ngôi nhà đẹp nên được nhiều người để ý tới. Nhưng sau đó lại thấy lo vì sợ kẻ trộm rình mò, chờ cơ hội vào nhà ăn trộm đồ, nên chủ nhà quyết định “cửa đóng then cài” để ngăn ngừa hậu họa. Khi tiếp khách, ông chủ cũng thận trọng vì sợ kẻ gian đóng giả khách vào thăm dò của cải. Chủ nghi ngờ khách đến thăm thì còn đâu là tự nhiên nữa. Suy rộng ra khi con người thành đạt cũng vậy, nhất là thành đạt về kinh tế, địa vị, con người bị chính ngôi nhà và của cải vật chất điều khiển và vận hành tư duy của mình và con người ngày một xa rời đồng loại và trói buộc “tự do” của mình vào những giá trị mang tính vật chất. Nói quá đáng hơn là con người bị vật chất, những thể vô tri vô giác điều khiển tâm hồn mình. Thật đáng thương, từ vai trò chủ thể vật chất, con người trở thành lô lệ của nó. Điều đơn giản vậy mà mấy ai trên đời này đã có thể nhận ra. Lấy vật chất làm thước đo giá trị là một sai số hệ thống trong tư duy của nhân loại ngày nay. Nói một cách tâm linh hơn, vật chất vốn vô tội vì nó cũng từ tự nhiên mà ra, nhưng các thế lực đen ngoài vũ trụ, thường dùng vật chất để “đánh cắp” tính tự nhiên trong tư duy của con người. Quỷ thật cao siêu vì nó đã biết sử dụng vật chất để điều khiển thế giới suy nghĩ của con người, tôn thờ vật chất. Điều đó không có lỗi, nhưng nó định hướng tư duy con người theo quy luật thoái biến của vật chất thì thật đáng tiếc. Người giàu không có lỗi nhưng do không biết sử dụng đồng tiền như là phương tiện để sống, mà lại biến nó thành mục đích cuộc sống nên họ sợ đủ thứ và sợ chết hơn những người biết nhận ra triết lý sống kể trên.
Nói tiếp về câu chuyện triết học, rồi ngày mỗi ngày ngôi nhà xuống cấp và trở nên mốc meo, thay hình đổi dạng và không còn ai để ý đến ngôi nhà này nữa. Chủ nhà thấy yên tâm bắt đầu mở các cửa sổ để gió thổi vào nhà mà hưởng chút “hương đồng gió nội” từ tự nhiên. Bạn bè ông cũng nhiều hơn vì cửa chính vào nhà cũng không còn đóng nữa và chủ nhà thấy vui hơn cái thuở ngôi nhà còn mới. Suy rộng ra, khi thể xác lão hóa con người thường đến với tâm linh và được thực thể tâm linh “ngọn gió” giúp đỡ để tiếp tục tìm ra ý nghĩa đích thực của sự sống. Trong xã hội, có những người vì những rủi ro, bất hạnh trong cuộc sống, tưởng không thể sống nổi, họ đã đến với tâm linh trong những cách khác nhau và nhiều người thành công, trở nên an bình và tiếp tục cuộc sống tự nhiên. Đối với một số trường phái tu luyện, để các đệ tử hết tâm với công phu luyện tập, họ phải chấp nhận “tự phá” ngôi nhà trước để đón gió. Chỉ có gió là tha hồ ra vào đùa dỡn với từng ngõ ngách của ngôi nhà trống này. Họ kêu gọi các đệ tử sùng đạo buông bỏ đời sống trần tục, diệt cái này, diệt cái kia, diệt tận gốc để tu luyện tập trung. Thật vậy, khi buông bỏ để tu giống như “tự hủy” phần đáng được trân trọng, cái lõi của các hưng phấn bình phàm trong đời sống, thì cần được xem lại. Tuy nhiên đấy là cách tiếp cận của người xưa và nay thì đã khác và cách tiếp cận với “ngọn gió tâm linh” cũng khác xưa rồi. Người tu hiện đại là tu tại tâm, vẫn làm việc, vẫn sống đầy đủ vật chất và tinh thần nhưng không hề bận tâm về nó.
Khi con trẻ, thể xác con người cường tráng xinh đẹp thì con người sống vì thể xác, miễn sao nó tươi trẻ, quyến rũ và người ta ít nghĩ tới thành tố tự nhiên linh hồn. Càng già, thể xác càng gần tới ngày tàn lụi thì người ta càng nghĩ tới thực thể tâm linh, thành tố tự nhiên trong họ, giống như cái thần của câu chuyện “gió vào nhà trống” này vậy. Học hỏi khoa học sự sống mới (tạm gọi là khoa học tâm linh) sẽ giúp các bạn trẻ không bị xa vào cái bẫy vô hình “mê tín dị đoan” từ những câu chuyện tâm linh, có gốc từ hiệu ứng tâm linh của người khác mà mất định hướng trong cuộc sống. Chúng ta trân trọng những vị chân tu vì các vị đã giúp nhân loại bảo tồn tình thương, nhưng tránh tu “ồ ạt” vì cái danh hoặc vì mục đích kiếm sống do lười lao động. Tác giả bài viết này cũng vậy, luôn nhủ lòng mình rằng tu là tu tâm dưỡng trí để lao động tốt hơn và sống ý nghĩa hơn.

Có nên sử dụng đầu óc phân biệt trong đời sống thường nhật

Đầu óc phân biệt là rất cần thiết trong học tập, như muốn hiểu cấu tạo giải phẫu của con cá thì phải mổ nó để coi, nhưng rồi từ đó, lại phải tổng hợp và nâng tầm nhận thức về con cá cao hơn khi chưa giải phẫu nó. Vẫn phải tả con cá như nó vốn có hình hài khí động học, có vây, có đuôi, có mang mới là mô tả sự thật đầy đủ về con cá. Rất tiếc sau khi mổ con cá để coi ruột nó, ông bạn khoa học khi nói về con cá lại cứ nói về ruột của nó vì ông thấy nhiều điều mới. Đó là ví dụ về sự lẩm cẩm “bác học” của nhân loại và nói khác đi ông khoa học đang rơi vào ma trận khoa học, nơi các ma thuật khoa học điều khiển. Phân biệt, đầu óc phân biệt một cách cứng nhắc là lãnh địa của ma thuật.
Trong đời sống cũng vậy, khi nghiên cứu thì cần mổ xẻ vấn đề để hiểu biết, nhưng rồi lại phải trở lại đời sống tự nhiên để sống và làm việc thật đơn giản tự nhiên. Đầu óc phân biệt chỉ sử dụng khi nghiên cứu, còn trong đời sống thường nhật thì nên cư sử tự nhiên vô phân biệt sẽ giúp bạn có cảm giác thanh nhàn và hạnh phúc. Nói cách khác đầu óc phân biệt là một cái bẫy, cái ma trận mà ai bị cuốn theo sẽ không có lối thoát và bế tắc.
Những trải nghiệm thực thể sống tâm linh cũng vậy, mỗi người khi tiếp cận với nó đều có cách riêng của mỗi người và trong quá trình ấy các hiệu ứng tâm linh xuất hiện. Hãy đừng xa vào những cái tiểu tiết được gọi hiệu ứng tâm linh, như thần giao cách cảm, xuất hiện khả năng chữa bệnh tuyệt vời và nhiều hiệu ứng khác. Vì nếu xa vào các ma trận như vậy, cũng giống như học hỏi phát triển tâm linh để hiểu về cội nguồn sự sống và vũ trụ, thì lại cứ đi tả những trải nghiệm của mình khi gặp phải các hiệu ứng tâm linh thì bạn vô tình tự ngăn đường hiểu biết những cái mới vi diệu của khoa học sự sống đang chờ bạn. Tầm hiểu biết của nhân loại xưa và nay khi tiếp cận với khoa học tâm linh bị chậm lại chính do con người quá tâm đắc với các hiệu ứng tâm linh mà bỏ lỡ cơ hội tốt hơn để hiểu biết về sự sống và vũ trụ. Có thể nói đó là những ngõ cụt khi tiếp cận và còn hơn thế nữa là người tiếp cận với tâm linh bị mắc bẫy trong các ma trận tâm linh đủ loại. Các vị minh sư trong mọi thời đại đều giống nhau ở một điểm là những điều minh triết các Ngài nói ra thông qua ngôn ngữ và văn hóa của các cư dân bản địa để khi trình bày thì dù là người thông thái hay các “lão nông chi điền” cùng hiểu được ý tứ, cái hồn của vấn đề. Nên các Ngài chỉ nói bằng lời và không ghi lại bằng văn bản. Vì các Ngài sợ rằng sau này chính sự chật hẹp về ngôn ngữ và sự thêm bớt ý tứ của các đệ tử khi nghi chép, kết cục sẽ dẫn tới những sự hiểu lầm về những điều các Ngài đã học hỏi được.Vì vậy khi tiếp cận với khoa học tâm linh xin đừng chấp ngã “câu chữ” mà hãy hiểu cái thần, phần băng tầng siêu cao, ẩn sau câu chữ mới là biết học. Người chấp ngã câu chữ là những người dấu dốt mà cao ngạo và lại không chịu học. Ông Chúa nói thế này, ông Phật Thích Ca nói thế kia nhưng các Đấng của nhân loại có nghi chép lời mình nói đâu mà các đệ tử làm việc này. Có nhiều đệ tử và mỗi ông chép một cách, hợp với trình độ cập nhật của mình. Thời gian thay đổi, vạn vật muôn loài thay đổi, chân lý thay đổi, nhân loại cứ lấy những điều học hỏi trong quá khứ của các Ngài mà ứng dụng vào đời sống hiện tại chắc không khỏi những sai lầm đáng tiếc. Ngày nay những điều mà các Ngài đã lường trước đã sảy ra ở các tôn giáo, nhưng biết làm sao đây, khi mà nhân loại coi các Ngài như những người sáng tạo ra vũ trụ. Thượng Đế là vô danh, vô hình, vô sắc, muốn học hỏi và phát triển tâm linh người biết học cũng phải biết triệt để vô danh mới tiến bộ nhanh được. Ngay cả những điều gì được gọi là tâm đắc nhất thì nó cũng có những ma trận hút tâm trí bạn. Nhân loại dễ bị “mê tín dị đoan” chính ở điều này. Tác giả bài viết luôn nhủ lòng mình rằng: ngay sau kết thúc bài viết, nó chỉ còn là kỷ niệm nhận thức một thời và không có ý nghĩa thông tin nữa. Chính vì vậy mà những cái mới vẫn đang chờ.

Cuộc sống đâu chỉ vì miếng cơm manh áo

Chơi bi là một trò chơi của trẻ em Việt Nam và nhiều nước khác và đây là trò chơi thú vị. Có một toán trẻ nhỏ chơi bi ở cạnh nhà và tôi ngồi quan sát tụi trẻ chơi bi. Có một cậu bé láu lỉnh và khéo tay và cũng tỏ ra ích kỷ trong từng động tác đánh bi. Chơi một hồi, cậu bé ăn hết bi của bạn và bọn nhỏ còn lại thất vọng gọi nhau ra về. Bỗng cậu bé ích kỷ kia gọi bạn quay lại và “hào phóng” cho các bạn mình mỗi đứa ít viên bi, vì cậu ấy muốn cuộc chơi được tiếp tục trở lại. Thật thú vị, chính vì cái cảm giác ảo, được ăn bi của bạn, đã biến một cậu bé ích kỷ kia thành một người biết cho bạn. Cuộc chơi sôi nổi trở lại và thu hút nhiều cô cậu nhỏ đến chơi.
Nền kinh tế thế giới cũng vậy như là một cuộc chơi bi. Hiện nay các chính phủ đang đưa ra những kế hoạch khổng lồ, đổ ra hàng trăm, hàng ngàn tỷ đô la để cứu vãn nền kinh tế, “cho bi” để chơi tiếp. Hết cuộc chơi, kinh tế sụp đổ. Vì sao? Vì cũng như cuộc chơi bi kể trên, không có người tiêu dùng thì hàng hóa sản xuất ra bán cho ai đây. Ngày nay, có rất nhiều dạng “cho bi” như vậy từ các nước giàu có, dành cho nước có nhiều người tiêu dùng dưới dạng đầu tư nước ngoài. Có cung mà không có cầu thì kinh tế sụp đổ. Dù sao những nước nghèo, những người nghèo cũng thầm cám ơn những nước giàu, những người giàu đã “hào phóng” cho bi để chúng ta có được nguồn tài trợ từ họ. Sự cân bằng của Trời Đất chính ở điểm này.
Người giàu, nước giàu đang làm cho ai? Cho đời và đích thực là như vậy. Suy rộng ra những nhà kinh doanh, sản xuất hay những người đang cố gắng làm giàu, những người được gọi là kẻ vụ lợi. Theo tôi, không phải vậy. Họ vất vả suốt ngày tính toán sao có nhiều lợi nhuận, thậm chí ăn không ngon ngủ không yên. Xin hỏi rằng những sản phẩm vật chất kia, họ có dùng được là bao và phần lớn sản phẩm họ làm ra để cho nhân loại hưởng. Đương nhiên, để có tiền mà mua hàng hóa sinh hoạt, chúng ta cũng phải lao động chứ cái cấu trúc xã hội hiện đại này không phải là xã hội mang tính phân phát. Vậy người ta lao tâm khổ trí để cho ai hưởng đây? cho chúng ta, cho mọi người lao động trên thế gian này. Rồi lại còn phải chịu cái tiếng để đời là tham tiền là một nhận thức cần xem lại. Chỉ có điều là vai trò của các chính phủ là đưa ra các chính sách để cân đối điều hòa hàng hóa sao cho các tài nguyên từ lòng đất có phần tái phân phối cho công chúng được hưởng. Người lo sợ hết tài nguyên là người chưa chịu học, vì xét cho cùng, có cái gì có thể lọt ra khỏi quả địa cầu này, vũ trụ này. Xin thông báo mới khoảng 0.023 % năng lượng mặt trời được con người sử dụng vào đời sống. Và cũng xin nhắc lại nghiêm túc rằng sử dụng tài nguyên ồ ạt đồng nghĩa với thả quỷ về hạ giới. Môi trường sống thay đổi. Khi mà phần đa nhân loại chưa kịp tiến hóa mà môi trường ô nhiễm sẽ phương hại đến “sức sống”. “Vật liệu sống” là khoáng sản phải tương hợp với “sức sống” mới tạo ra đời sống hạnh phúc cho nhân dân. Trong thời kỳ này sự giao thoa sáng tối xảy ra giữa vật liệu sống và sức sống chính là điểm này.
Triết học Đông phương có cách tiếp cận sống khác người Phương Tây ở chỗ “nghèo về vật chất , mà biết cách, thì cũng giàu có như ai”. Nếu biết học thì ai cũng là những ông hoàng bà chúa. Hãy bỏ cái hư ảo của sở hữu cá nhân đi bạn. Ra đường thấy những ngôi nhà sang trọng, những xe hơi tân kỳ thì hãy nhắm nhìn nó một cách thỏa thích và đừng có “thầm” giận đời, giận ông chủ của nó. Vì họ có nó, mà đâu có được những khoảng khắc thảnh thơi như bạn để thưởng thức và dường như tâm trí họ chỉ có tiêu chí giá trị đồng tiền. Họ đang làm cho nhân loại, chỉ có điều họ không biết đầy đủ như vậy. Đồng tiền đã choán gần hết khoảng không gian trong đầu họ và chúng ta thầm cám ơn họ vì họ đã phục vụ hết mình cho văn minh xã hội. Người có nhiều tiền bạc có thật sự sung sướng hay không và có nhiều tiền bạc để làm gì? Để có tương lai tốt đẹp chăng? Hay để có sự đảm bảo nào đó hơn người? Không ít người suốt cả cuộc đời mưu cầu tiền bạc và đến khi xế bóng chiều tàn, tưởng rằng tiền bạc sẽ giúp cho mình hạnh phúc. Nhưng rốt cục, lại chẳng phải như vậy, khi già, các tế bào đã lão hóa rồi thì ăn đâu còn thấy ngon, chơi đâu đâu còn có sức. Cũng như bao người nghèo khó, người giàu cũng phải đối mặt với bệnh tật và cái chết. Có tiền đâu có thể mua được tuổi thanh xuân, đâu xua được sự hết đau khổ, bệnh tật và cũng đâu tránh khỏi cái chết. Vì thế, chúng ta hãy thầm cám ơn những vị, ở các địa vị khác nhau, đã hy sinh kiểu này cho cái danh giàu có và nổi tiếng của họ và họ đích thực những người hiếu danh, nhưng lại là đầy tớ tự nguyện của nhân dân mà họ không biết. Người nghèo, nếu chỉ đơn thuần nghèo về vật chất, thì cần chỉ chịu khó lao động chút đỉnh là có ăn, chẳng phải lo nghĩ gì nhiều. Muốn giàu, xin hãy giàu về sức sống, giàu về cách cảm nhận tự nhiên, giàu bạn bè và giàu tình thương.
Dù bạn có là ai, giàu có hay còn nghèo khổ, thì bạn cũng hãy là những con người giàu hoài bão và luôn có ước vọng vươn tới những điều tốt đẹp. Hãy tự biết thương mình và thương người, hãy giành thời gian để trải rộng tâm hồn với tự nhiên và cuộc sống, để chất nguyên ủy của sự sống luôn nuôi dưỡng từng tế bào và tuôn chảy trong từng mạch máu, làn da, thớ thịt của bạn và hãy biết thương nhau. Thương nhau là sự chia sẻ, giao thoa năng lượng tự nhiên dạng ẩn cho nhau. Chúng ta hãy sống với bản thể tự nhiên và tình thương chỉ còn là hình thức biểu hiện, sự hiện hữu của năng lượng tự nhiên trong từng cử chỉ sống mà thôi. Người Việt Nam có câu ca dao quen thuộc: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy là khác giống nhưng chung một dàn”. Xin hãy sống trách nhiệm với cuộc đời, thương nhau để cùng có cơ hội sống tốt đẹp, tử tế trong ngày đại hỷ của nhân loại, ngày “nụ cười nở trên môi nhân loại”.
Đ.V.T (CÒN TIẾP)
__________________
Hạnh Phúc thay ! Mỗi sớm mai thức dậy,lại có thêm một ngày để yêu thương .
Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 03-02-2012, 4:08 pm  
tuanvu_quynh1949
Senior Member
 
tuanvu_quynh1949's Avatar
 

Default
KHOA HỌC TÂM LINH NHÂN ĐIỆN.

LỜI TỰ SỰ CỦA MEKONG.

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG (tt)

Chương 5
NIỀM VUI CUỘC SỐNG

Mê Kông - dòng sông tuổi thơ của lòng ta

Hỏi: Sinh thành – bảo tồn – hủy diệt là một quy luật tự nhiên làm con người luôn sợ hãi lo lắng không chỉ cho cuộc sống vốn mong manh của riêng mỗi con người, mà cả số phận của trái đất và vũ trụ. Làm thế nào có thể minh giải cho quy luật tự nhiện nghiệt ngã này?

Trả lời: Đúng như tinh thần của câu hỏi thú vị này, sinh thành – bảo tồn – hủy diệt là một quy luật tự nhiên. Nhân loại bế tắc chí ít cả gần ba ngàn năm nay để trải nghiệm và nhận biết về quy luật này nhưng chưa có câu trả lời thỏa đáng. Các tôn giáo cũng mắc kẹt và luôn gắn nó với sức mạnh của thần thánh và các khái niệm về vị cứu tinh nhân loại ra đời với những cái tên cụ thể tùy vào tin ngưỡng của họ. Điều đó cũng dễ thương cho sự ngây thơ của tư duy nhân loại.
Đấng tự nhiên ở cõi trời xa đưa đại lượng thời gian vào đại càn khôn như là một sáng tạo vĩ đại của Ngài, nhằm mở mang vũ trụ và phát triển sự sống của muôn loài vạn vật. Đại lượng này là cơ sở năng lượng cho định luật tuần hoàn trong vũ trụ. Bất kể vật thể, sinh vật nào sống trong vũ trụ đều được kiểm soát chặt chẽ bởi định luật tuần hoàn thời gian. Nói dễ hiểu là vạn vật muôn loài diễn thế tuần hoàn theo thời gian. Sinh thành, bảo tồn và hủy diệt là chùm ba của diễn thế mà quy luật này thể hiện. Thời gian và năng lượng ẩn đi kèm của nó là cơ sở cho sự biến đổi tuần hoàn. Ngay trong từng hơi thở của con người cũng mang tính chất này. Hít vào là sinh, trước lúc thở ra có điểm lặng là bảo tồn và nhịp thở ra là kết thúc.
Vì sao thời gian lại có sức mạnh sinh diệt như vậy? Vì đại lượng này mang năng lượng ẩn tự nhiên, năng lượng toàn năng toàn thiện, đang vận hành sức sống muôn loài vạn vật. Câu hỏi muôn thuở vẫn là “lực lượng vô hình nào điều khiển vũ trụ và muôn loài thông qua quy luật tuần hoàn này?”. Bản chất của thời gian và năng lượng ẩn chứa trong đại lượng này mang tính tuần hoàn, lặp đi lặp lại. Người ta sợ hãi vì kết thúc chu kỳ tự nhiên này là hủy diệt và chết. Vì tư duy phân mảnh nên “sinh” thì mừng, tử thì thất vọng và quy luật tự nhiên này bị coi là nghiệt ngã và đó là nhận thức sai lạc đáng tiếc. Muốn hết sợ và sống thảnh thơi yêu đời chỉ còn một cách duy nhất là nhận biết đầy đủ sự thật về nó.
Sự thật đó là gì? Thời gian mang năng lượng ẩn tự nhiên và không gian ba chiều vật chất là sự lắng đọng của năng lượng ẩn tự nhiên để tạo ra trái đất và vũ trụ vật chất mà chúng ta được biết, con người có thể cân đo đong đếm được. Tuy vậy, vật chất không chỉ mang đặc tính vô hồn “vô tri vô giác” mà vật chất còn mang năng lượng ẩn tự nhiên, vật chất cũng mang tính thiêng liêng và có hồn của riêng nó. Có một câu thơ được gọi là đáng nhớ ở Việt Nam rằng “khi ta ở chỉ là nơi đất ở, khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”. Câu thơ này bị chậm pha và con người luôn chậm pha. Tứ trước là tư duy vật chất vô hồn và tứ sau là sự chậm pha, nhưng vẫn còn nhận ra khi đã muộn.
Sự sống và ý nghĩa của nó là tình yêu con người, quê hương đất nước và sự tương hợp của lòng người với đất Mẹ. Đây là điểm mới trong nhận thức của nhân loại về thời gian và không gian. Tới một ngày giờ nào đó, khi toàn nhân loại thức tỉnh thì hai khái niệm thời gian và không gian hết ý nghĩa riêng của nó và chỉ là một.
Thật vậy, vật chất không tồn tại vĩnh hằng mà nó luôn vận hành biến đổi nhưng năng lượng ẩn tự nhiên, năng lượng thời gian thì tồn tại mãi mãi. Trong vật chất vẫn ẩn chứa năng lượng đặc biệt mà con người có thể hiểu đơn giản như những cụm từ “hồn thiên sông núi” “địa linh” “đất tổ” hay các khái niệm khác tương tự. Khi con người mở tâm, giao hòa với tự nhiên thì nhận ra điều thiêng liêng kì thú rằng “con người là thành tố tự nhiên”, có cơ thể vật lý bằng da bằng thịt, có tâm hồn được coi là cơ thể tâm linh. Phần đa nhân loại chỉ nhận ra cơ thể vật lý của mình và từ chối cơ thể tâm linh. Đây là điều đáng tiếc và là nguồn cội của mọi sự đau khổ. Cơ thể tâm linh chính là tâm hồn cao quý của mình, mang giá trị thiêng liêng của cuộc sống và tồn tại vĩnh hằng. Cơ thể vật lý của các vị Phật hay người bình phàm đều bị tan rã, nhưng cơ thể tâm linh vẫn còn đó mãi với thời gian.
Sự sống vĩnh hằng tiềm ẩn trong năng lượng ẩn thời gian. Chính vì vậy đã nhiều lần vũ trụ hình thành và tan rã, vũ trụ mới ra đời, sự sống lại sinh sôi nảy nở theo chu kỳ thời gian.
Sinh thành là trạng thái lắng đọng năng lượng ẩn thành vật chất và vật chất có cơ sở từ năng lượng ẩn tự nhiên. Nguyên tử hay vũ trụ luôn thay hình đổi dạng và để tồn tại thì quá trình bảo tồn gây hiệu ứng. Đó là quá trình lưu giữ năng lượng ẩn trong vật chất và đây là ẩn số để con người ứng dụng trong đời sống hàng ngày. Ẩn số này đã được giải một phần như việc phát hiện ra năng lượng nguyên tử. Tiếc thay năng lượng này đã bị nằm trong tay những thế lực đen và trữ lượng của nó hiện nay đủ phá hủy trái đất nhiều lần. Hủy diệt là trạng thái chuyển hóa vật chất thành năng lượng ẩn hoàn toàn để rồi chu kì sinh mới được thiết lập. Năng lượng dù bất kì ở dạng gì cũng luôn trung tính. Người dùng năng lượng thì có mục đích, chính vì vậy khi dùng vào mục đích hòa bình thì năng lượng ấy mang lại lợi ích cho nhân loại, các thế lực đen sản xuất vũ khí nguyên tử để răn đe nhau thì năng lượng nguyên tử tiềm ẩn sự hủy diệt. Vậy thế lực nào vận hành sự sống và sự chết chóc cho trái đất này?. Ai cũng biết đó là mục đích của những người cầm giữ, sở hữu năng lượng nguyên tử và các dạng năng lượng khác. Các cuộc chiến tranh xung đột dù ở dạng gì cũng đều có lí do sâu xa “chiến tranh để sở hữu năng lượng”.
Ngày nay con người còn được biết thời gian cũng co dãn và nó đã minh chứng rằng năng lượng ẩn tự nhiên cũng chuyển dịch, “thay hình đổi dạng”. Vật chất và năng lượng ẩn tự nhiên như hình với bóng trong sự biển đổi, chuyển hóa trong không gian ba chiều. Đã có nhà khoa học nhận xét một cách tinh tế, đầy nhận biết rằng chưa bao giờ con người có thể cân đo chính xác được vật chất. Vận hành và biến đổi năng lượng ẩn hàm chứa trong vật chất đã xóa khái niệm “chính xác hoàn toàn” của nhân loại.
Hiểu biết sâu sắc chiều thứ tư, chiều thời gian là điều vô cùng khó khăn cho nhân loại trong xuốt chiều dài lịch sử ghi chếp được khoảng gần ba ngàn năm trở lại đây. Những ai sẵn sàng học, được biết với cụm từ ‘khai tâm mở trí” sẽ có tư duy rộng mở, phóng khoáng và đặc biệt với tình yêu cuộc sống thiết tha hỗ trợ cho nhận biết sự thật về thời gian. Họ sống phúc lạc từng giây từng phút vì họ biết ứng dụng năng lượng ẩn này vào đời sống hằng ngày.
Bạn có thể hỏi liệu còn có chiều không gian nào khác nữa, ngoài bốn chiều không gian đã được biết? Có chứ, tư tưởng và nhận biết của con người mở rộng đến đâu sẽ tiếp cận được chiều không gian tương ứng theo luật tự nhiên thứ hai của vũ trụ, luật “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Luật thứ nhất là luật tuần hoàn thời gian đang nói ở câu hỏi này.
Vượt ra các khái niệm truyền thống “sinh thành – bảo tồn – hủy diệt” con người sẽ vững tin hơn vào sự vĩnh hằng của sự sống. Tình yêu thiết tha với sự sống là khái niệm “Thượng đế tình yêu cuộc sống” là sự vĩnh hằng. Tình yêu cuộc sống còn vô hạn hơn cả vũ trụ và dường như đó là chủ thể của vũ trụ hay còn gọi là năng lực tỏa sáng càn khôn. Tình yêu cuộc sống đích thực (true love) của bạn mở rộng đến đâu thì hạnh phúc đến với bạn tới mức độ đó. Người tràn đầy tình yêu cuộc sống luôn khỏe mạnh, tự tin, yêu đời và cụm từ thuần khiết nhất nói về trạng thái đó là “phúc lạc”.
Bạn có thể hỏi làm sao có thể tin được thời gian chứa năng lượng ẩn. Câu trả lời thật đơn giản là những điều, những sự kiện mà con người ghi chép được trong gần 3000 năm qua là gì thì bạn biết và nó được ghi chép theo tiến trình thời gian. Nếu bỏ thời gian ra khỏi các sự kiện thì các thông tin sự kiện ấy vô nghĩa. Bạn phải sử dụng khái niệm thời gian để sắp xếp sự kiện và chỉ có đại lượng thời gian mới tạo ra ý nghĩa của sự kiện đời bạn, dân tộc bạn và vũ trụ này. Quy luật tuần hoàn tạo ra ý nghĩa. Chỉ cần bạn nghĩ về sự kiện đại lục Atlantic bị nhấn xuống lòng biển Đại tây dương thuở nào là lập tức năng lượng ẩn thời gian đến với bạn. Hãy làm thử và sẽ thấy những cảm nhận đặc biệt trong lòng bạn. Khi năng lượng này xuất hiện nó sẽ có cách biến đổi riêng của nó trong cơ thể bạn. Đơn giản nhất là bạn nghĩ về những người thân yêu đã khuất núi băng hà, lập tức lòng bạn xao xuyến, ấy chính là năng lượng ẩn thời gian. Tuy nhiên không phải nghĩ về ai về sự kiện nào cũng gây hiệu ứng, bởi vì năng lượng ẩn thời gian còn được kiểm soát bởi luật “đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu”.

Hỏi: Con người và động vật, cũng như thảo mộc có gì khác nhau ở khía cạnh cảm nhận thời gian và chụi sự điểu khiển của năng lượng ẩn tự nhiên mà được gọi với cái tên là năng lượng ẩn thời gian trong luật tuần hoàn?

Trả lời: Gọi là luật tuần hoàn hay luật gì đó cũng chỉ là ước lệ để dễ nhận thức trên cơ sở kế thừa những khái niệm vốn có của nhân loại mà thôi. Muôn loài thì “vui vẻ” còn con người thì lo lắng đau khổ và thất vọng và vì sao vậy?. Thức thời gian và sự cảm nhận rõ ràng mạch lạc nhất về nó chỉ duy nhất có ở con người. Đó là đại hồng ân mà con người được ban tặng từ Đấng Tự nhiên.Và đó là đặc điểm tiến hóa của con người so với các loài thảo mộc và động vật khác. Năng lượng ẩn thời gian là chìa khóa điều hành luật vũ trụ, điều hành sự tiến hóa của sinh giới ở không gian ba chiều này. Bạn muốn bất tử thì cần vượt ra ảnh hưởng của năng lượng ẩn này. Vĩnh hằng là không chịu sự chi phối của luật tuần hoàn. Tĩnh lặng, vô nghĩ là cách con người tự do với năng lượng ẩn, vượt ra sự chi phối của nó. Suy nghĩ là công cụ là đường dẫn để con người tiếp cận với năng lượng ẩn thời gian. Vĩnh hằng không phải là điều gì mơ ước và khó thực hiện và nó đơn giản là vô nghĩ, tĩnh lặng trong thời khắc hiện tại, sống với hiện tại. Chiều về quan sát hoàng hôn và đón ánh trăng vàng về ngôi nhà của bạn trong trạng thái nhận cảm mà không nhận xét. Đó là vĩnh hằng và cảm nhận sự vĩnh hằng chỉ có ở thời khắc hiện tại. Sai lầm đáng tiếc của nhân loại là phóng chiếu khái niệm vĩnh hằng ở thì tương lai. Xin nhắc lại rằng thời gian ngừng trôi chỉ khi con người vô nghĩ, quan sát, đón nhận niềm vui cuộc sống mà không nhận xét kết luận. Đó là tĩnh lặng, tĩnh lặng “động”.
Các sinh thể khác cũng cảm nhận được thời gian nhưng không đầy đủ và rõ ràng như con người. Thời gian điều hành toàn bộ các hoạt động của chúng và chúng sống vô thức. Con người thì đã biết hành động ý thức và khi hành động ý thức thì con người đã vượt ra khỏi đại lượng thời gian chiều thứ tư vào chiều thứ năm (tạm gọi như vậy) với khái niệm “siêu thức”. Siêu thức là sự siêu việt khỏi sự khống chế của không gian và thời gian. Siêu thức có năng lượng đặc biệt điều hành không thuộc năng lượng ẩn tự nhiên hay năng lượng ẩn thời gian. Thật vậy, bất cứ lúc nào, ở đâu khi bạn suy nghĩ quán tưởng đến bất kỳ điều gì thì não bộ cũng có thể “lên hình” cho bạn về điều đó với những cách thức rất đặc biệt, rất riêng của bạn. Đó là điều thiêng liêng vĩ đại nhất ai cũng có, nhưng mấy ai đã nhận biết ra. Vì vậy người ta kêu gọi hãy trở về với nội tâm bên trong của mình, khám phá ra sự linh thiêng, kì diệu trong chính cái mà con người đang sở hữu.
Ngày nay nhân loại hành động có ý thức nhưng nhưng mới chỉ ý thức được một nửa vì chưa vượt ra khỏi chiều thứ tư, chiều thời gian nên luật tuần hoàn sinh thành – bảo tồn – hủy diệt vẫn còn đó với hiệu ứng điều khiển gần như toàn bộ đời sống nhân loại và nỗi khổ trầm luân “đời là bể khổ” vẫn còn nguyên gia trị. Hy vọng với những ai sẵn sàng học, suy ngẫm thật sâu sắc ý nghĩa của đại lượng thời gian sẽ có chìa khóa của riêng mình để tiếp cận với khoa học sự sống mới để hoàn tất sự tiến hóa của mình trong trọn một kiếp người.

Hỏi: Đời sống hướng nội là gì?
Trả lời: Đối với phần đa nhân loại sống hướng ngoại. Hướng ngoại là sống với ngoại giới mà “quên mất” bản thân mình, quên đi rằng mình đang có sẵn điều thiêng liêng vô lượng ngang tầm mức thần thánh trong mình. Đó là tình yêu cuộc sống, hạt nhân sinh ra những giá trị siêu phàm của riêng đời bạn và xã hội loài người. Người ta nói rằng tình yêu cuộc sống là vĩnh hằng và nó không phải là cái chỉ để tôn thờ mà để sống hàng ngày. Tĩnh lặng, cảm nhận diễn thế cuộc sống quanh mình không nhận xét kết luận rằng con chim này đẹp còn con kia không đẹp. Vì còn cảm nhận thấy điều không đẹp kia là suy nghĩ là phân chia tính hợp nhất của muôn loài trong tư duy. Năng lượng ẩn thời gian chỉ xuất hiện khi tư duy phi hợp nhất, tư duy phân mảnh xuất hiện.
Người sống hướng ngoại thì sự nhận biết thời gian được lưu tâm và sự lặp đi lặp lại ngày đêm, năm tháng tạo ra sự nhàm chán. Và điều quan trọng nhất là sự vận hành ấy đang đưa con người gần tới cái chết. Là người ai cũng sợ chết, chỉ trừ số rất ít những người hiểu biết sâu sắc đại lượng thời gian, mà trong nhiều văn bản triết học người ta gọi đó là những người thức tỉnh. Họ thức tỉnh vì họ biết suy nghĩ hướng ngoại chỉ là sự truy cập với quá khứ hoặc phóng chiếu, mô phỏng một tương lai không có thật. Vì thì hiện tại của thời gian không có chỗ đứng của quá khứ và tương lai. Họ sống rất đơn giản và có thể nói dung dị rằng họ thì thầm với cỏ hoa và vạn vật quanh mình một cách hồn nhiên vô tư.
Người sống hướng nội thì nội tâm phong phú, tràn đầy sinh lực sống và thời gian cũng phải “ngừng trôi”. Thời gian ngừng trôi hàm ý rằng đại lượng thời gian không còn tác động đến họ nữa, họ sống và tiếp cận với đời sống vĩnh hằng của chiều thứ năm “siêu thức”. Sống hướng nội coi những diễn thế xung quanh như một phần nội tâm của mình. Họ bỏ rào cản hay đường biên của tiểu vũ trụ con người với ngoại giới, với đại vũ trụ. Khi đối mặt với những sự éo le, vô minh của sự đời họ bình thản, khoan dung và yêu con người. Người thức tỉnh vượt qua không chỉ luật tuần hoàn thời gian mà cả luật thứ hai của vũ trụ là luật “đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu”. Khi thấy điều ngang trái họ không còn bị rung động lăn tăn bởi nó. Vì con người còn rung động với cái dở thì cái dở vẫn chưa từ giã họ. Họ thấu hiểu ý nghĩa của “đồng thanh tương ứng”. Thậm chí những ý nghĩ xấu xa nào đó dù chỉ là thoảng qua đâu đó cũng không có chỗ đứng trong họ vì họ hiểu sâu sắc ý nghĩa của “đồng khí tương cầu”. Người nào còn rung động với những ý nghĩ xấu xa, căm giận nó, cái dở vẫn còn đó trong họ.
Người sống hướng ngoại là hướng suy nghĩ của mình ra ngoài. Suy nghĩ được coi là phương tiện để đếm thời gian vì vậy mà Decart, nhà triết gia vĩ đại phương tây đã nói “sống là nghĩ suy”. Ông ấy nói đúng một nửa. Vậy còn nửa nữa là gì? Vẫn là công cụ suy nghĩ ta hướng suy nghĩ vào bên trong bản thể mình. Làm như vậy chúng ta tự cân bằng hai đầu năng lượng hàm chứa trong suy nghĩ, ta ở giữa hai đầu năng lượng. Nếu thời gian là nước trong hồ thì suy nghĩ là con sóng trên mặt hồ. Suy nghĩ cũng hàm chứa năng lượng ẩn thời gian.
Trải nghiệm hướng nội cho thấy điều thú vị là khi ta treo suy nghĩ vào bất cứ vị trí nào, cơ quan tổ chức nào trong cơ thể mình thì suy nghĩ “chết”. Đó là phép màu nhiệm thiêng liêng của bản thể con người mà có thể bạn chưa có cơ hội trải nghiệm.

Hỏi: Thật thú vị khi ông nói suy nghĩ có năng lượng ẩn vậy đã là năng lượng thì có thể ứng dụng như thế nào vào đời sống hàng ngày được chứ?

Trả lời: Bạn đã gần như lúc nào cũng sử dụng nó trong đời sống kể cả khi ngủ, bạn mơ. Mơ là tái hiện những suy nghĩ trong vô thức. Suy nghĩ thường chạy lang thang không mấy khi tập trung định hướng, giống như khi bạn ném hòn đá vào mặt hồ, sóng sẽ lan tỏa đi mọi hướng. Vì vậy bạn càng suy nghĩ thì bạn càng bị hao tán năng lượng và chẳng có mục tiêu và ý nghĩa gì. Khi suy nghĩ tập trung thì bạn sẽ thấy sức mạnh mãnh liệt của nó như thế nào. Bất cứ một hành động nào mà ý nghĩ được tập trung thì hiệu quả hành động rất cao. Vì sao vậy? Vì tập trung suy nghĩ bạn đã tập trung năng lượng ẩn thời gian đọng lại trong hành động. Sáng tạo chỉ có thể trong trạng thái tập trung tư tưởng.

Vũ trụ vận hành biến đổi thường xuyên và vào những năm tháng này, trái đất trở mình với động đất, sóng thần, núi lửa phun trào làm lòng người cũng xốn sang tư lự. Đó là nỗi lo chung cho nhân loại và nguyên nhân của sự lo lắng, phiền muộn của con người phải chăng là chưa chịu thay đổi để đồng pha và thích nghi với những thay đổi của ngoại giới. Không thay đổi là vẫn duy trì thói quen sống cũ được gọi là lối mòn trong tư duy vốn đã ăn sâu trong tiềm thức của con người từ nhiều đời, nhiều kiếp.
Con người thiếu vắng niềm vui, âu là chưa chịu thay đổi triệt để thói quen sống cũ. Ở một khía cạnh nào đó thì thói quen sống cũ là cội nguồn của đau khổ, buồn chán và thất vọng. Vì vậy mỗi khi thấy lo lắng, thất vọng, bồn chồn, đau khổ hay các tâm trạng tương tự anh chị em làm một bài tập đơn giản như hướng dẫn dưới đây.
Ngồi, nằm, đứng kiểu gì cũng được, miễn là thoải mái, không gò bó và sau đó treo suy nghĩ của mình vào vùng ngực nơi chứa trái tim mình. Tự sự với trái tim, với lòng chân thành sâu sắc thiết tha nhất có thể theo tinh thần “trái tim ơi ta mến yêu người”. Duy trì trong ít phút, dài ngắn không quan trọng và dừng khi thấy cần. Khi trở lại trạng thái ban đầu thì pha trà hoặc cà phê uống chơi với trạng thái thư giãn nhất có thể. Quan sát tâm trạng mình một cách chân thành nhất. Hãy thử làm và bạn sẽ thấy bừng tỉnh một tình yêu thiết tha cuộc sống và điều kì diệu là tâm trạng bất an trước đó sẽ nguôi đi. Đây là cách làm dễ dàng, đơn giản, ai cũng có thể làm được ở bất cứ nơi đâu và vào bất cứ lúc nào. Đây là kỹ thuật không chỉ mang tính Yoga mà còn mang tính thư giãn hiện đại tạm gọi là nửa còn lại của Yoga. Tất cả các phép dưỡng sinh xưa và nay, hiếm thấy có phép dưỡng sinh nào đề cập đến cách làm như trên. Hãy làm như vậy, dễ làm và không cần ai hướng dẫn. bạn tự do, bạn bừng sáng.
Khi trải nghiệm Yoga, bất cứ trường phái nào bạn cũng sẽ thấy cơ thể mình dường như bị sức ép thêm vào, từ chính kỹ thuật đó. Đúng thôi, bất cứ điều gì phải dung kỹ thuật thì đều thiếu tự nhiên. Kỹ thuật là cách ép nhịp sống sinh học tự nhiên hoạt động theo nhịp máy móc. Nên đã hàng ngàn năm qua số người thành công trong luyện tập Yoga là rất thấp. Thực tế cho thấy có nhiều người đã tập nhưng chỉ đạt được hiệu quả thanh nhàn trong tâm trạng buổi mới nhập môn, sau đó bỏ. Nói như vậy không phải là Yoga không có tác dụng, mà muốn nói rằng các phương pháp Yoga chính thống mới chỉ giúp con người được một nửa. Nửa còn lại phải chăng là kỹ thuật bổ trợ ngay sau khi dừng thực hành Yoga. Thư giãn, buông bỏ, thụ động quan sát, cảm nhận những điều huyền diệu ngay sau khi kết thúc luyện tập Yoga. Tạm gọi là nhận biết bản thể.
Mỗi khi một bộ phận nào đó trong cơ thể có vấn đề như đau nhức, khó chịu hay đi khám bác sỹ được biết bạn bị bệnh có liên quan đến cơ quan bộ phận trong cơ thể. Ngồi, nằm, đứng kiểu gì cũng được, miễn là thoải mái, không gò bó và sau đó treo suy nghĩ của mình vào vùng đau trong cơ thể mình. Tự sự với bộ phận đau bệnh đó với lòng chân thành sâu sắc thiết tha nhất có thể theo tinh thần “cám ơn nỗi đau và nhờ có nỗi đau này mà ta biết yêu ta”. Duy trì trong ít phút, dài ngắn không quan trọng và dừng khi thấy cần. Khi trở lại trạng thái ban đầu thì pha trà hoặc cà phê uống chơi với trạng thái thư giãn nhất có thể. Quan sát tâm trạng mình một cách chân thành nhất. Nếu bệnh nặng không thể sinh hoạt bình thường được thì mở nhạc nghe chơi hay nắm tay người thân yêu của mình trong tĩnh lặng. Đây là phương pháp dung nạp năng lượng nghĩ suy để bổ trợ cho quá trình hồi phục sức khỏe. Hãy làm thử và bạn sẽ thấy mình chính là “bác sỹ” của chính mình, bác sỹ thứ hai. Đây là kỹ thuật không chỉ mang tính Yoga mà còn mang tính thư giãn trị liệu hiện đại tạm gọi là nửa còn lại của Yoga.

Khi con người suy nghĩ, suy nghĩ là công cụ cảm nhận thời gian, cảm nhận quá khứ (dấu ấn quá khứ), cảm nhận tương lai (ước muốn tương lai) là lúc đại lượng thời gian đến với bạn, chiều thứ tư xuất hiện. Chiều thứ tư hư vô. Thông qua não bộ, các hình ảnh về quá khứ được dựng lại và triển vọng vê tương lai được hư cấu, phóng chiếu trên nền tảng những ham muốn trong quá khứ chưa thực hiện được. Đó là sự tinh tế, siêu việt của não bộ con người. Kết quả là phần đa con người thời nay chỉ toàn sống với quá khứ và tương lai qua các ảo ảnh. Vì sao? vì quá khứ không thể tái hiện thực trong hiện tại và tương lai thì chưa tới. Nên cả hai chỉ là không thực, là ảo. Vì vậy các minh sư hiền triết thường nói rằng con người quên hiện tại và chỉ sống với ảo ảnh của quá khứ và tương lai. Đức Phật Cồ Đàm Thích Ca Mâu Ni dạy con người phải biết nhớ đến hơi thở hiện tại của mình trong kỹ thuật thiền nhà Phật, với ẩn ý là con người hãy sống với hiện tại và cảm nhận từng giây phút thiêng liêng được sống làm người. Ngài không muốn chúng ta cứ ngồi thiền xuốt ngày mà quên đi nhiệm vụ lao động, sáng tạo ra cuộc sống mới ngày một tươi đẹp hơn. Niềm vui cuộc sống không phải tìm, mà luôn xuất hiện trong thì hiện tại, đó là cuộc sống, không gian sống mà bạn đang hiện hữu ở đó.

Hỏi: Cuộc sống hàng ngày cứ lặp đi lặp lại làm con người thấy nhàm chán và thêm vào nữa những khó khăn khi hành động do con người lấy tư duy hiệu quả làm thước đo giá trị đã làm cho con người thiếu vắng niềm vui trong cuộc sống. Vậy làm thế nào để con người có thể tìm thấy niềm vui trong đời sống hàng ngày?
Trả lời: Niềm vui cuộc sống không phải đi tìm ở đâu xa mà nó luôn có ở bên cạnh con người, sự hiện hữu của thế giới quanh ta mà ít người nhận ra. Thường thì con người đi tìm niềm vui trong công việc hay niềm vui gắn với hành động sống của con người, điều này là tự nhiên nhưng mới đúng một nửa. Thật vậy, cứ một hành động xuất hiện trong ta với ý thức chủ động là thêm vào nỗi nhọc nhằn, ai cũng biết và đó chính là sức ép của công việc hay hành động. Nhất là những việc không muốn mà phải làm vì cuộc sống và vì bát cơm manh áo và do vậy con người thiếu vắng niềm vui trong đời sống thường nhật.
Đây cũng là một câu hỏi thú vị, thiết thực với đời sống hàng ngày của mỗi chúng ta và phần sau của câu hỏi đã là câu trả lời thỏa đáng. Nhân câu hỏi này xin được chia xẻ đôi điều với phương châm là hành động để thấy rõ hơn niềm vui cuộc sống luôn ở quanh ta, mọi nơi mọi lúc, mà nhiều khi con người cứ lầm tưởng nó ở chân trời góc biển.

Thấy đúng thì làm
Làm thấy vui là làm đúng
Kết quả đến đâu vui đến đó
Nếu không có kết quả thì mình đã tạm ứng niềm vui trong khi hành động
Thay đổi hành động để niềm vui mới cứ mãi trong ta

Phương châm hành động đơn giản là "thấy đúng thì làm, làm thấy vui là làm đúng". Một người biết mình, biết sống bao giờ cũng nhận thức sâu sắc việc mình làm là để làm giàu cho cuộc sống đáng yêu này. Còn lại, nếu hành động thấy bị sức ép, thấy lo âu, mệt mỏi thì cần xem lại ở khía cạnh chân giá trị của hành động. Thước đo kết quả không chỉ là hiệu quả mang tính vật chất, mà còn là những giá trị lớn hơn thế gấp trăm ngàn lần, những giá trị tinh thần, nói nôm là “niềm vui cuộc sống” mang lại từ hành động.

Ai cũng biết kết quả của hành động do nhiều yếu tố ảnh hưởng tới, nhiều khi nằm ngoài ý muốn con người. Người ta còn cho rằng “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Không có ông Trời nào can dự vào kết quả việc làm của con người cả. Chữ Thiên ở đây nên hiểu cho đúng là những yếu tố ngoài ý muốn, với tri thức của nhân loại hiện nay, con người không thể hiểu được. Thật hiếm có người hành động mang tính tự nhiên vì trước khi hành động phần đa chúng ta đã quá kì vọng vào sự thành công. Người hành động tự nhiên thì hiệu quả hành động là sản phẩm phụ đương nhiên mang lại và họ nhận ra chân giá trị của hàng động là niềm vui cuộc sống. Bác nông dân cày xong thửa ruộng kịp gieo hạt lúc chiều về và trong lòng lão dấy lên niềm vui với cỏ hoa đồng nội. Niềm vui cuộc sống luôn ở quamh ta và nó đơn giản dung dị như nụ cười mãn nguyện của bác nông phu cày xong thửa ruộng.
Làm mà không có kết quả thì sao? Bạn đã tạm ứng niềm vui trong khi hành động và cũng như bác thợ cày kia lúc làm việc đã tràn ngập niền vui. Cuộc sống luôn luôn động, quá khứ việc làm của bạn có thể sai, nhưng bạn không lặp lại quá khứ sai, đưa quá khứ sai vào hiện tại. Đó là thành công mang giá trị cốt lõi nhất và đó được gọi là thức tỉnh. Đáng buồn cho những ai làm sai mà cứ cho rằng mình đúng, mình hay. Có một vị minh sư đã từng nói một câu nổi tiếng rằng “thương cho những kẻ hành động mà không biết mình đang làm gì”.
Điều quan trọng hơn trong đời sống của mỗi chúng ta là biết điều chỉnh hành động, thay đổi hành động với nhận biết mới để thấy cái đúng mới. Và rồi "thấy đúng thì làm" và xin hãy hành động với nhận thức mới để khơi dậy niềm vui mới để tình yêu cuộc sống mới cứ sinh sôi mãi trong ta.

Hỏi: Xin cho biết làm thế nào có thể phân biệt được hành động đúng và hành động sai trái?

Trả lời: Câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhưng sự thực là một câu hỏi lớn còn bị bỏ ngỏ trong mấy ngàn năm qua chưa có câu trả lời thỏa đáng. Hành động là cách thức, là phương tiện giải phóng năng lượng của sinh thể. Năng lượng thì trung tính nên về căn bản không có khái niệm hành động đúng hay sai. Người hành động, mục đích hành động là đường dẫn cho năng lượng giải phóng theo chiều thuận, vô hại hoặc có ích cho xã hội và muôn loài gọi là sự thăng hoa năng lượng. Ngược lại năng lượng giải phóng theo chiều nghịch thì trước tiên người gây ra hành động bị bị tổn tổn thương cả hai khía cạnh thể xác và tâm hồn và còn ảnh hưởng xấu đến cộng đồng và muôn loài.
Bạn có thể phân tích hành động của một con vật và kết luận đó là hành động đúng hai sai được không? Một con thú tấn công con người cũng không ai chê trách nó là sai là ác. Vậy điều nghịch lý này cần được hiểu như thế nào đối với hành động của con người?
Bản chất của hành động là công cụ tạo ra sự thay đổi và sự thay đổi là phá vỡ cân bằng cũ để tạo ra cân bằng mới, tạo ra niềm vui mới đích thực. Tuy nhiên không phải bất cứ hành động nào cũng tạo ra niềm vui cuộc sống và điều cốt lõi là hành động như thế nào. Thật vậy năng lượng sống của con người có hai đầu cực, tạm gọi cực dương tạo ra niềm vui, cực âm tạo ra nỗi buồn, sự hao mòn sinh lực, sức ép, lo lắng, bất an và những điều tương tự như vậy. Tính chất của hành động quyết định kết quả năng lượng sẽ đi theo chiều nào.
Hành động của con người có hai loại là hành động vô thức, tự động, tự nhiên và hành động ý thức, có sự cân nhắc đến ảnh hưởng của hành động tới người khác và muôn loài vạn vật quanh ta. Như vậy, ta có thể hiểu nôm na là hành động vô thức là phục vụ cho những thay đổi bên trong cơ thể như “đói ăn khát uống” phục vụ cho các nhu cầu của tầng sinh học cơ bản của con người. Vì vậy hành động vô thức mang tính hướng nội là chính. Con người và động vật không khác nhau mấy về tính chất của hành động vô thức. Niềm vui cuộc sống dễ tìm thấy ở loại hành động này. Tuy nhiên những ràng buộc về phong tục tập quán, lối sống, đạo đức do con người ở các châu lục, cộng đồng tạo ra đã kìm nén, nếu không nói là kết án cho một số nhóm hành động vô thức là xấu xa. Nhóm hành động “dục” đã bị các tôn giáo kết án từ mấy ngàn năm nay. Coi nó là xấu xa, là làm ô uế thánh đường, chùa chiền. Thử hỏi rằng các vị vĩ đại đặt ra các điều ngăn giới cấm kia từ lỗ nẻ sinh ra hay sao. Đức Phật, Đức Chúa và các vị minh sư trong mọi thời đại đều có cha có mẹ và điều thiêng liêng vĩ đại của sự sống đã tạo ra từ hành động “dục”. Phải chăng các đệ tử của các Ngài sau này đặt ra các luật cấm kị và tự mình tuân thủ để tạo ra hiện tượng lạ “vô dục”. Họ có thể đã không hiểu nổi hành động diệt dục là gì? Là tự kết thúc sự sống tầm thánh nhân, vi diệu mà trời đất ban tặng để có được hai chữ “hy sinh”. Vì ai? Vì nhân loại hay vì chính họ. Nhân loại cũng thật kỳ lạ, dễ tin vào những thứ tầm phào đó. Nói ngắn gọn là hành động không có đúng có sai nhưng chủ thể hành động, người định hướng hành động thì có đúng có sai.

Hỏi: Đại lượng thời gian, công cụ của Tạo hóa sinh ra tất cả và cũng hủy đi tất cả được hiểu như thế nào trong chiều hướng tiến hóa của Đại càn khôn và sự sống trên trái đất này. Đó là câu hỏi hàng ngàn đời nay, mà nhân loại vẫn chưa hiểu hết được. Các tôn giáo có nguồn ngốc từ vùng Núi tuyết thì gọi đó là bánh xe sinh tử và làm thế nào con người có thể vượt qua vòng sinh tử?

Trả lời: Các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa tin về sự hiện hữu của các hố đen vũ trụ và cho biết thiên hà (galaxy) mà chúng ta đang sống có hàng triệu các hố đen và ở trung tâm thiên hà có một hố đen cực lớn. Theo tính toán của khoa học thì kích thước của hố đen trung tâm gấp bốn triệu lần kích thước mặt trời. Các hố đen này luôn di chuyển và khi gặp các hành tinh trong hành trình di chuyển của nó, các hành tinh thay đổi tốc độ quay và bị hút vào hố đen, giống như cát bụi bị các vòi rồng cuốn vào. Chỉ khác là các hành tinh sẽ bị nát vụn và trở thành nguyên liệu vũ trụ, để hình thành các hành tinh mới. Sự kiện này đã được quan sát nhờ kính viễn vọng của các nhà thiên văn học. Vũ trụ, các hành tinh trong vũ trụ cũng có tuổi thọ, được sinh ra và rồi lại bị mất đi để làm nguyên liệu hình thành các hành tinh mới, cũng giống như những hiện tượng sinh tử của vạn vật mà chúng ta quan sát được ở trái đất này.
Trái đất thân yêu này của chúng ta có tuổi thọ đến bao giờ? Thời gian chưa tới và nếu nó tới cũng chí ít cả tỷ năm nữa. Thời gian đó ở thì tương lai và nếu con người cứ đưa thì tương lai vào cảm nhận của mình sẽ không khỏi lo lắng và sợ hãi. Hãy sống với hiện tại tràn đầy niềm vui quanh bạn và đó là cách bạn đang sống thật, sống với hiện tại, sống với thì hiện tại của thời gian. Niềm vui trong từng khắc giờ đang đón chờ bạn. Đó là niềm vui trong công việc, niềm vui nho nhỏ khi đàm đạo gặp gỡ nhau trong xã hội của bạn, kể cả xã hội gia đình bạn và niềm vui giao hòa với tự nhiên, với núi sông, với ngọn gió lành đồng nội. Không nên quá thiên lệch về niềm vui trong công việc, mà bỏ phí cơ hội đón nhận những niềm vui khác như đã nói ở trên.
Sống là để đón nhận niềm vui. Bạn đã sống thật. Có người nói quá rằng nếu bạn chỉ sống với quá khứ đã qua và sống với tương lai chưa tới là bạn đã sống giả, sống như chết. Bạn sống với đau khổ và sống như vậy không gọi là sống thật. Sống để đón nhận niềm vui là cách vượt qua vòng sinh tử trong từng khắc giờ và rồi tâm thức bạn được bồi hoàn. Các "nét sống" mang giá trị trong cuộc đời bạn sẽ được mã hóa, các thông điệp mã hóa đó tạm gọi là "mã sống" life code và nó sẽ được mang về với tâm thức vũ trụ. Sự tái sinh của "mã sống" life code sẽ xuất hiện tùy theo căn cơ của bản life code có giá trị tâm thức như thế nào. Vượt qua vòng sinh tử trong từng khắc giờ là không bao giờ muộn, đó là bạn đã "tu nhân tích đức" để có life code thuần khiết trong cuộc đời này. Bản life code ấy sẽ được tái sinh. Vì vậy được sống làm người là một đại hồng ân và hãy tận hưởng từng khắc giờ tràn đầy niềm vui đang đến với bạn ở thì hiện tại. Đó là hành động biết yêu thể xác thiêng liêng của mình.

Người ta nói con người có linh hồn và điều đó là đúng. Nhưng linh hồn cũng là vô hình và linh hồn, "mã sống" life code bao giờ cũng nương tựa vào thể xác để được học hỏi tiến hóa tâm linh. Linh hồn hiện hữu thông qua thể xác. Một linh hồn không có thể xác được gọi là cô hồn (người thể sóng). Sự sống thể sóng ở cõi khác, cõi âm và đó chính là cơ sở triết lí để nhận biết những hiện tượng tâm linh như gọi hồn, thần giao cách cảm. Tuy nhiên để có được nhận biết đúng về những hiện tượng này thì con người cần có những hiểu biết về khoa học tâm linh. Đại đa số nhân loại hiện nay coi đó là những hiện tượng thần bí và không ít người lợi dụng để "buôn thần bán thánh" gieo rắc vấn nạn mê tín dị đoan.
Xu thế chỉ sống với linh hồn mà quên đi thể xác cũng là mê tín dị đoan. Có những kiểu hành xác như bạn đã biết trong lịch sử các tôn giáo và đó là điều đáng tiếc. Đáng tiếc hơn đối với phần đa nhân loại cũng đang hành xác mình mà họ không biết. Đó là lo lắng vu vơ cho tương lai mong manh của mình và những tính toán lo âu trong sự ganh đua vì danh lợi. Đó là hành xác mà bạn có thể không cho là vậy. Con người mà không biết yêu thể xác thiêng liêng của mình, không biết tận hưởng từng khắc giờ được sống làm người thì thật là uổng phí.
Những thảm họa tự nhiên khác có nguy cơ sảy ra thì rất nhiều và các phương tiện thông tin đại chúng đã nói. Ví dụ như các thiên thạch lớn, đường kính đạt tới khoảng 18 mét, khi va vào trái đất sẽ đủ để tàn phá một thành phố lớn bởi "sóng xung kích" của nó. "Sóng xung kích" có thể biến đá tan chảy thành nước và theo tính toán của khoa học thì phải mất một ngàn năm đá mới có thể xa lắng thành khoáng chất tích tụ thành mỏ quặng (nguyên lý tích tụ xa khoáng từ các vụ va chạm của các vật thể vũ trụ). Như vậy việc va đập của các hành tinh nhỏ vào các hành tinh lớn được hiểu là quá trình tạo khoáng chất. Đó là sự vận hành bánh xe sinh tử của vạn vật. Ở vũ trụ này chẳng có sự kiện gì là đáng sợ cả và khi có hiểu biết đủ mạnh thì mỗi sự kiện đều mang những ý nghĩa riêng của nó. Và đó là cơ sở của sự tiến hóa vũ trụ. Con người là một thành tố của vũ trụ, dù có "vật đổi sao dời" đến đâu đi nữa thì các "mã sống" life code cũng không thể lọt qua được vũ trụ này. Những người đã thấm thía khoa học tâm linh thì luôn tin rằng đời sống của linh hồn, "mã sống" life code là vĩnh hằng.
Năng lượng ẩn tự nhiên hàm chứa trong chiều thứ tư chỉ có thể vận hành trong hiện tại. Nó vận hành theo cách riêng của nó vì vậy con người chưa hiểu biết đầy đủ về nó sẽ luôn bị động. Nói theo cách dễ hiểu là "vạn vật muôn loài luôn thay đổi theo thời gian, biến đổi khôn lường ". Đây là một quan điểm triết học căn bản nhất từ ngàn đời nay. Đến thiên hà, vũ trụ còn thay đổi không ngừng thì làm sao con người lại không thay đổi được. Theo tính toán của khoa học thì thiên hà andropoda, người hàng xóm của thiên hà chúng ta, đang vận chuyển để sát nhập với thiên hà của chúng ta thành một thiên hà lớn hơn. Sự sát nhập đó sẽ sảy ra một sự va chạm khủng khiếp. Các nguy cơ hủy diệt sự sống do con người phóng chiếu như vậy thì có rất nhiều. Nó sẽ sảy ra và khi nào? Thì thời gian mới trả lời được (ở thì tương lai). Đã lâu lắm rồi, hai ngàn năm gần đây, chưa thấy có báo cáo nào ghi chép được những thảm họa khủng khiếp tầm như vậy sảy ra với trái đất này. Nếu có, cũng ở tầm mức nhỏ lẻ, không đáng kể. Sự phóng chiếu gây dao động tâm lý con người theo kiểu "bé xé ra to" đã làm con người cứ chìm đắm lầm than mãi trong lo lắng sợ hãi. Tâm trí bất an. Tất cả chỉ là nguy cơ. Vậy sao con người cứ tự làm mất an mình bằng tương lai chưa đến. Đang sống thì không chịu sống sao cho "đừng sống hoài sống uổng", lại cứ sống với những ảo ảnh của quá khứ và tương lai do chính não bộ phóng chiếu, tô vẽ theo kiểu "nghe tin vịt" ấy, thì "đời là bể khổ" cũng là có lí. Đời là một bể sướng và chỉ ai sẵn sàng làm bùng nổ nhận thức mới về sự sống muôn loài trên căn bản biết đón nhận niềm vui cuộc sống quanh ta, sẽ sống mãi trong phúc lạc, chu toàn.

Mới có vài trăm năm phát triển của khoa học công nghệ, cách nhìn nhận vũ trụ và muôn loài đảo lộn, làm lòng người bất an. Mấy ông khoa học không chừng đang làm những việc "răn đe" để có thêm kinh phí cho nghiệp sống khoa học của mình, cũng là lẽ dễ hiểu ở mọi nơi trên thế gian này.
Thời gian vô hình, vô sắc, vô ngôn, vô mục đích. Con người không thể vận hành thời gian quay về quá khứ và lại càng không thể dừng thời gian lại được. Dòng thời gian cứ trôi như những dòng sông xanh chảy về biển cả, theo cách riêng của nó, mà ta gọi là hoạt động vô mục đích. Con người thì có mục đích, đắp đâp ngăn sông, nhưng rồi bằng cách riêng của nó, dòng nước cứ trôi mãi về biển cả. Chẳng ai có thể giữ nước mãi trong hồ. Sức nước hàm chứa năng lượng ẩn tự nhiên khủng khiếp. Các cụ ta có câu "tức nước vỡ bờ". Bờ có gia cố vững chắc tới đâu thì một cái trở mình nhẹ của Mẹ trái đất (động đất) thì nước lại có cách đi riêng của nó về biển cả. Đừng trách tự nhiên sao mà vô tình gây lụt lội, hạn hán. Hãy xem lại hành động trái với tự nhiên của con người mà điều chỉnh công cuộc "trinh phục tự nhiên". Năng lượng ẩn tự nhiên hàm chứa trong đại lượng thời gian có thể sinh ra tất cả và hủy diệt tất cả là ẩn ý muốn nhắc con người rằng: đại lượng thời gian, hiểu biết về giá trị năng lượng ẩn của thời gian cần được tiếp cận và nghiên cứu thật nghiêm túc để niềm vui hiểu biết sống lại trong bạn. Dòng hiểu biết, dòng thời gian, dòng đời cứ chảy, chảy mãi khôn nguôi, như những dòng sông xanh chảy về biển lớn.
Thay cho lời kết có chùm thơ nhỏ, món quà tặng bạn đọc của lòng ta.

Kệ như thế

Cuộc sống hàng ngày quanh ta có những niềm vui đơn giản và lý thú, nhưng nhiều khi ta không để ý tới. "Kệ như thế" là cách đón nhận niềm vui nhận biết, không hàm ý tiêu cực bỏ qua, đúng nghĩa hơn là không mang quá khứ vào thì hiện tại của thời gian. Kệ không phải là thơ, mà là cách diễn trình ngôn ngữ đời thường dung dị đơn giản như diễn trình của tự nhiên là như thế. Điệp ngữ như thế được lặp đi lặp lại, muốn nhắc lại một điều gì, không thuộc bất cứ một quy luật, lô - gíc nào mà con người đang mong muốn học hỏi trong cõi thực ba chiều này. Nếu như thế cứ diễn hoài như thế, đó là điệp khúc thời gian, cội nguồn sinh ra các quy luật ba chiều. Như thế cuộc đời này tràn đầy niềm vui hiểu biết. Điệp khúc như thế, như tiếng chuông chiều tái hiện như thế, gợi lòng ta về với ngàn thu, cội nguồn nguyên ủy của sự sống.

Có một bác nông phu lòng lành như thế
Yêu cuộc đời yêu sớm nắng chiều mưa
Có một tình yêu lặng thầm như thế
Yêu mãi trẻ thơ trong trại tế bần



Có một đôi mắt ai dịu hiền như thế
In biển xanh, đọng nguyên khí đất trời
Có một bãi cát hữu tình như thế
Nhuộm ánh trăng vàng, cát hóa thành thơ



Có một cõi ba chiều như thế
Ai sống rồi mới thấy hư vô
Có nhiều vị hiểu cao biết rộng như thế
Thế gian ơi! lầm tủi đến bao giờ



Có một giải Nobel cao quý như thế
Thuốc súng ra đời, sáng tạo, hủy diệt ai
Có một Einstein vĩ đại như thế
Cõi ba chiều tương đối giả thuật kim



Có một Lão Tử uyên thâm như thế
Âm dương tương phản vũ trụ này
Có một Đức Phật an lạc như thế
Tĩnh lặng hư vô thức tỉnh muôn loài



Có một thiên hà tử thần như thế
Triệu hố đen hủy diệt các hành tinh
Có một vũ trụ khôn cùng như thế
Lòng người cũng vô thủy vô chung



Có con suối trong nguồn chảy ra như thế
Đổ về đâu nơi biển biếc trời xanh
Có một người mẹ dịu hiền như thế
Lặng thầm nơi chín suối đón con về



Có một rặng cau già như thế
Mủi lòng ta nhớ đám trầu cay
Có một con bướm quê đep xinh như thế
Lãng đãng bay làm xao xuyến cả rừng già



Có một người hành khất như thế
Tiều tụy đi hoài dạy ta biết yêu thương
Có một tài tử giai nhân như thế
Chỉ biết yêu ai bỏ lỡ cuộc đời mình



Có một mảnh trời quê lặng thầm như thế
Nhớ mãi tương cà nhớ mẹ nhớ cha
Có một mảnh đất lành như thế
Vạn kiếp người gọi nơi ấy quê tôi



Có một nhận biết đơn giản như thế
Đón bão dông nhận dạng tự nhiên là
Có một mảnh trăng quê điền viên như thế
Bóng chị Hằng bên chú cuội của lòng ta



Có một chiếc đồng hồ vô tư như thế
Phải trái lắc hoài chỉ để lấy động năng
Có một con lịch lặng thầm như thế
Mở trang nào trang ấy hôm nay



Có một Socrates lẫy lừng như thế
Khai sáng tự do, chết bởi tự do
Có một vị tổng thống oai hùng như thế
Làm thuê hoài cho thế lực dầu thô



Có một Christ đáng yêu như thế
Thương cho người hành động vô minh
Có một giống người như thế
Thể đặc tiêu tan, thể sóng vĩnh hằng



Có một cách huấn luyện con người như thế
Số hóa não bộ người cứ tưởng văn minh
Có một cách gây niềm tin hoang đường như thế
Không tin vào trừng phạt đợi chờ ai



Có một giả kim thuật tài tình như thế
Chuyển hóa phân thành hương sắc hoa hồng
Có một nghệ thuật mê hồn như thế
Biến rác rưởi cuộc đời thành bài học yêu thương




Có một lối sống giản đơn như thế
Thấy đúng thì làm để nhận niềm vui
Có một cách thẩm định dễ thương như thế
Kết quả chừng nào vui chừng ấy ai ơi



Có một Decartes lẫy lừng như thế
Sống làm người là phải nghĩ suy
Có một kỹ thuật đơn giản như thế
Quan sát ý nghĩ mình để được bình an



Có một chú ếch xanh nhỏ xinh như thế
Nhảy tõm vào ao cũ nước sủi tăm
Có một khối sao băng bất chợt như thế
Cứa ngang trời xao động trái tim ai



Có một lòng tham vô tình như thế
Của cải dư thừa ứng sử vẫn nhỏ nhen
Có một sự thanh cao lạ thường như thế
Sống trọn niềm vui với khoai sắn tương cà



Có một ngày như thế
Có một đêm như thế
Có một vũ trụ như thế
Như thế là như thế ở lòng ta

(còn tiếp)
__________________
Hạnh Phúc thay ! Mỗi sớm mai thức dậy,lại có thêm một ngày để yêu thương .
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là người đã gửi lời cảm ơn đến tuanvu_quynh1949 vì bài post hữu ích này:
liem0962 (03-02-2012)
Gởi Ðề Tài Mới Trả lời


Những đề tài tương tự
Ðề tài Người Gởi Chuyên mục Trả lời Bài mới gởi
Các thông điệp từ các đấng sáng tạo. tuanvu_quynh1949 Tâm linh 9 26-09-2012 11:27 pm
New Zealand “bị đẩy” đến gần Australia sau một trận động đất dung9610 Tâm linh 5 23-10-2010 5:51 pm
Tự Do Lựa Chọn thien-y801 Những quan tâm của bạn về ngành Nhân Điện 1 04-08-2010 1:54 am
Hình Tượng & Tâm Linh cheznous Tâm linh 4 25-06-2010 12:45 pm
Tam linh thien dinh thatsonphutu Tâm linh 1 17-10-2009 10:10 pm

Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Công cụ
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến



UE-GLOBAL.COM
Powered by vBulletin & vBadvanced CMPS
Copyright © 2000 - 2018, Jelsoft Enterprises Ltd.
vBulletin Skin developed by: vBStyles