UE Global
Translate this webpage (Google Translation):
    »
Choose your language:      

Chọn diễn đàn
Main Forums
English Forum
ue-global.com
Forum Français
French Forum
fr.ue-global.com
Diễn đàn Tiếng Việt
Vietnamese Forum
vn.ue-global.com
Русскоязычные форумы
Russian Forum
ru.ue-global.com
Foro en Español
Spanish Forum
es.ue-global.com
Български Форум
Bulgarian Forum
ue.hemuz.org

Chào mừng bạn đến với UE Global.
Go Back   UE Global > Diễn đàn Nhân Điện Tiếng Việt > Tâm linh

Gởi Ðề Tài Mới Trả lời
 
Công cụ Xếp Bài
Tam linh thien dinh
Old 17-10-2009, 1:54 pm  
thatsonphutu
Senior Member
 
thatsonphutu's Avatar
 

Default Tam linh thien dinh
TÂM LINH THIỀN ĐỊNH

Một cách tổng quan, tôi sẽ trình bày chi tiết về tâm linh thiền định, tương quan tâm-thân và luân xa, tâm linh, năng lượng vũ trụ và đạo lý, để thi hành sứ điệp mà tôi đã, đang, và tiếp tục thu nhận qua ân sủng của Đấng Tối Cao.
Trọng thu Kỷ Mão, 1999
Thầy Lương Minh Đáng


Thiền định được ứng dụng trong Trường Sinh Học hay Nhân Điện. Hành giả “CẦN PHẢI HẦNH THIỀN MỖI NGÀY” và nhất là trước khi điều trị bệnh cho thân chủ hay cho chính mình. Bởi lẽ đó tôi cần phải lược khảo về nguồn gốc thiền định, cách hành thiền và áp dụng thiền định trong Nhân Điện. Lần lượt, tôi sẽ diễn giảng từ Yoga đến Dhyana, Dhyana đến Chan, Chan đến Zen. Ngoài ra, tâm linh thiền định cũng sẽ được sơ lược từ Vedas (Vệ Đà), Phật học, Dịch lý, tư tưởng của Lão Tử và Khổng Tử, đến Jesus, v.v…. Từ đó, siêu việt đến tâm linh thiền định trong Trường Sinh Học hay Nhân Điện.
Trước hết theo Vedas (Vệ Đà), cổ kinh của Hindu (Ấn Độ Giáo), có độ hơn 3000 năm trước Công nguyên (3000 B.C.), thiền định (Yoga) là hợp nhất với Thượng Đế, nhận thức đồng nhất thể tất cả sự sống và là hướng lộ cho một Tổng thể. Thiền định là một trong các nghành quan trọng của Hindu (Ấn Độ giáo), từ Yoga Upaníshads là cổ kinh trong 10 kinh chính của Upanishads. Upaníshads là kinh huyền bí đã được truyền lại bởi các nhà tiên tri Ấn Độ và gắn liền với thiên cuối của mỗi một Veda. Vedas (Vệ Đà) gồm bốn bộ:
• Rig Veda (Thánh ca)
• Sama Veda (Giai điệu)
• Yajur Veda (Tế tụng)
• Atharva Veda (Kỳ diệu pháp môn)
Trong đó, Rig Veda (Thánh ca) là pho kinh cổ kính nhất. Upaníhads ghi nhận lời giảng, vấn đáp giữa các bậc chân sư và môn đệ trong tu viện trên núi (Ashram) trên thượng lưu sông Hằng (Ganges). Đôi khi giảng như triết lý thoại ngữ của Platon. Upaníshads không là triết học mà câu trả lời của nó là thức (Consciousness), bradmavidya. Hành giả tìm về nội tại, tự thức, xuyên qua thiền định.
Bhagavad Gita** ghi nhận lời dạy của Sri Krishna qua môn đệ Arjuna, cũng đã định nghĩa thiền định là tình trạng tâm thức thăng hoa hợp nhất với vũ trụ vạn vật. Yoga có ngữ căn từ Phạn ngữ là Yuj, có nghĩa là hợp nhất, là hội nhập tâm linh với Thượng Đế, gọi là Samadhi, trạng thái được gọi là moksha hay nirvana (niết bàn), trạng thái siêu việt không gian, thời gian, và vượt căn nguyên của mọi hệ quả, một tình trạng tâm linh sâu thẳm nhất.**
Bhagavad Gita đã trình bày bốn (4) loại Yoga. Đó là bốn (4) hướng đạo chính của Ấn Độ Giáo (Hindu) huyền nhiệm:
1. Janana Yoga là thiền định của tri thức, trong đó, thiền giả dùng ý chí để biện biệt chính mình từ thân xác, tâm trí, cảm giác, cho đến khi thấy mình không là gì, mà chỉ là Tự Thể (Self).
2. Bhaki Yoga là thiền định của tín ngưỡng, cùng đạt mục đích như Janana Yoga, tự thăng hoa hoàn toàn với Thượng Đế trong tình thương.
3. Karma Yoga là thiền định của tác động tự thức, thân tâm hòa hợp trong toàn thể đời sống mà quên mình cho tha nhân.
4. Raja Yoga là thiền định của tập trung tâm trí và cảnh giác cho đến tịnh điểm và thiền giả tan biến trong Tự Thức (Self).
Thiền định theo Phật giáo là dhyana. Dhyana là tình trạng không trí tưởng, không tư tưởng. Dhyana là Phạn ngữ. Sinh thời, Đức Phật không dùng phạn ngữ nhưng là thổ ngữ Bihar là Pali. Với Pali, dhyana là jhan. Do đó, Trung Hoa ngữ trở thành Chan. Đến Nhật (Japan), Chan trở thành Zen.
Từ thế kỷ thứ II trước Công nguyên, thiền định thường đồng nghĩa với Raja Yoga., hành thiền được giảng dạy bởi Patanjali. Patanjali (Thế kỷ II B.C.), tác giả của Yoga Sutras, mô tả con đường trực chỉ kiến tánh thành Phật qua thiền định. Phương pháp được gọi là Raja Yoga.
Đòng quan điểm, có Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma), Tổ thứ 28 của thiền tông Ấn Độ và là Tổ thứ nhất của thiền tông Trung Hoa. Khi đến Trung Hoa, ngài nhận thấy người theo Phật chỉ giải kinh sách trên danh tướng mà bất ngộ tông chỉ, bất liễu đạt tự tâm. Thậm chí nhiều người đã lấy thời khóa tụng để dẫn đạo tu hành, nên đã phá chấp văn tự, cho thấy rằng: “Mặt trăng không ở nơi ngón tay chỉ điểm”. Ngón tay hàm dụ kinh điển, mặt trăng dụ nghĩa TÂM. Muốn đạt tự tâm, hành giả nương kinh điển hay lời giảng của Thầy để liễu ngộ, kinh điển hay lời giảng không là tâm. Vì vậy, khi còn tại thế, Đức Phật và môn đệ chỉ tọa thiền.
Bởi lẽ đó, Bồ Đề Đạt Ma đã giảng dạy:
Giáo ngoại biệt truyền
Bất lập văn tự
Trực chỉ nhân tâm
Kiến tánh thành Phật.
Điều này có nghĩa là không cố chấp văn tự kinh điển, mà chỉ công phu tu định để ngộ Phật tính.
(Vậy mà trong nghành Nhân Điện tôi nhận xét một số nhiều học viên vẫn còn rất chấp vào những gì tôi nói và không chịu tìm hiểu xâu xa những gì tôi muốn nói, giống như chỉ chấp vào ngón tay mầ không thấy mặt trăng).
Thánh Thiên (Arya Deva), từ Trung Quán Đại Thừa của Long Thọ đã viết ra Bách Luận để thuyết giảng về thất phá: phá thường, phá ngã, phá thời, phá kiến, phá văn cảnh, phá biên chấp, phá tướng hữu vi, để trở về Tự Ngã thuần túy.
Lão Tử cũng đã nói:
“ Trí hư cực nghĩa là đến cực điểm hư không
Thủ tịnh đốc ” là giữ được tịnh
Hay: “ Qui căn viết tịnh ” tức trở về cội nguồn là tịnh.
Có người hỏi Đức Phật:
- “ Ngài đã được gì qua thiền định?”
Ngài đáp:
- “ Không có gì cả ”.
- “ Thưa Ngài có điểm tốt gì trong thiền định?”
- “ Qua thiền định, ta không còn bệnh tật, giận dữ, ưu tư, bất an, gánh nặng của tuổi già, và sợ chết. Chỉ ngần này, thiền định hướng đạo đến Nirvana (Niết Bàn)”.
Thiền định theo Phật Giáo Tiểu Thừa, căn cứ trên tâm thức, hoàn cảnh, và thân căn của hành giả mà áp dụng thiền pháp khác nhau. Thiền pháp thường dùng là quán: quán từ bi, quán nhân duyên, quán bất tịnh, hoặc chánh quán, v.v…
Với Phật Giáo Đại Thừa, thiền định thường căn cứ trên giáo nghĩa chính trong một số kinh phổ thông lưu hành như Lăng Già, Kim Cang, Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, Đại Niết Bàn, và Tâm Kinh.
Lăng Già là tâm ấn của Thiền tông Trung Hoa do Đệ nhất Tổ Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) trao cho Đệ nhị tổ Huệ Khả. Toàn bộ Lăng Già, Đức Phật giảng về Thức, Pháp, Tự tánh, và Ngã. Thiền định để vượt nhị nguyên (duality) mà an thức; không chấp pháp, không chấp tự tánh, và vô ngã để an trụ Như Như Tâm.
Nói đến Kim Cang Kinh, người ta thường liên tưởng đến Lục Tổ Thiền tông Trung Hoa, Huệ Năng, người được khai ngộ bởi diệu kinh này. Thiền định để an trụ tâm. Tâm đây là tâm Như Lai, “ Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm ” (tức là dựa vào nơi không trụ để an tâm). Vậy là không trụ vào chổ có trụ, không trụ vào chổ không có trụ. Và thiền lý của Tổ Huệ Năng được kết tập trong Pháp Bảo Đàn Kinh mà căn bản là vô niệm, vô tướng, và vô trụ, mà thiền định là yếu đạo để đạt tam vô, an tâm, kiến tánh thành Phật.
Cùng ý tưởng này, Vương Dương Minh, một tư tưởng gia của Khổng môn đời Tống đã đáp lời các đệ tử Tiền Tự Sơn và Vương Long Khuê rằng: “ Vô thiện vô ác thị tâm chi thể ” (tức là Không thiện không ác là cái thể của tâm).
Thiền định theo Kinh Lăng Nghiêm là kiến tánh tiệm tu. Thiền giả trực nhận kiến tánh. Kiến tánh tiệm tu là nhất quán pháp.Tiệm tu tất kiến tánh. Kiến tánh tự tiệm tu. Lấy tâm làm chủ, không làm pháp.
Toàn bộ Kinh Pháp Hoa gồm 7 tập, 28 phẩm tính. Đức Phật đã giảng giải về tri kiến Phật thường trụ trong thân vô thường để tự khai ngộ, khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến. Vậy, 7 quyển, 28 phẩm trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh cũng nhằm khai thị hành giả thiền định để trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật.
Đồng quan điểm, ở Trung Hoa, Lão Tử đã nói:
“ Kiến Tổ bão Phúc ” tức là trực chỉ nhìn Tánh để bão Tâm.
Hoặc : “ Thệ viết viễn, viễn viết phản ”.
Nói theo ngôn ngữ Phật là Thức, Pháp, Tánh, và Ngã, ngoại hướng xu động nhân quả miên viễn. Viễn ngoại là hướng trong mê lộ. Phải phản phục an trụ Như tâm, Bát nhã tâm.
Lão Tử cũng nói: “ Bất xuất hộ, tri thiên hạ
Bất khuy dũ, kiến thiên đạo ”.
Không ra khỏi cửa mà biết thiên hạ sự. Không nhìn ngoài khung cửa mà thấy Đạo Trời. Vậy, theo Lão Tử, Đạo Trời tại Tâm. Trực chỉ nhân tâm thấy Đạo Trời. Vậy, thiền định là bản pháp kiến tánh, liễu ngộ.
Lão Tử lại nói: “Hành bất ngôn chi giáo” tức Lấy không lời mà giáo hóa.
Đồng thời, Khổng Tử cũng đã nói: “Dư dực vô ngôn” nghĩa là “Ta không muốn nói gì cả”.
Tử Cống hỏi:
- “ Nếu thầy không nói thì môn đệ có gì để truyền hậu thế?”
Ngài đáp:
- “ Thiên hà ngôn tai? Tứ thời hành yên, vạn vật sinh yên, thiên hà ngôn tai?” (Trời có nói gì đâu? Bốn mùa vẫn vận hành, vạn vật vẫn sinh trưởng, trời có nói gì đâu?)
Vậy, bất ngôn chi giáo hay dư dục vô ngôn hàm dụ ý nghĩa tâm truyền. Tâm truyền vượt không gian và thời gian và duy chỉ thiền định mới đạt yếu chỉ tâm truyền.
Bởi lẽ đó, trong mỗi khoa học hoặc trong mỗi cuộc hội thảo về Nhân Điện, có những giây phút tôi (Thầy Đáng) ngồi yên lặng để truyền tâm và truyền năng lượng, trong khi đó, tất cả nhân điện hành giả trực chỉ, chú tâm, yên lặng, đối diện tôi để trực nhận năng lượng và tâm chỉ.
Đến đây, tôi muốn nhắc lại hội Linh Sơn hay đúng hơn là Hoa Tâm Giáo (Flower Sermon), một hội giảng quan trọng nhất, nổi danh nhất của Đức Phật. Đây là tâm truyền yếu chỉ hội. Ngày kia, Đức Phật đến với một cành hoa sen trong tay và ngồi yên lặng, không nói lời nào trước hàng ngàn tín đồ chờ đợi thu nhận lời giáo huấn. Đức Phật vẫn trầm lặng nhìn cánh hoa sen. Một sự yên lặng và ngưng chỉ toàn vẹn. Mọi người ngơ ngác. Duy chỉ một môn đệ, Mahakashyapa (Ma Ha Ca Diếp) mỉm cười. Đức Phật gọi Mahakashyapa lại, trao cánh hoa sen cho môn đệ này và nói với toàn thể:
“Cái gì có thể nói, ta đã nói với các người và cái gì không thể nói, ta vừa trao cho Mahakashyapa (Ma Ha Ca Diếp)”.
Đó là nguồn tâm linh thiền định (Spiritual Yoga), của Dhyana, của Chan, và của Zen. Đức Phật yên lặng, Mahakashyapa yên lặng. Hai sự yên lặng tan biến, hòa hợp vào nhau, Đức Phật và Mahakashyapa là một.
Theo tôi, tâm điểm thiền định (Dhyana) của Phật giáo còn từ yếu chỉ Tâm Kinh (Heart Sutra). Theo cổ kinh Phật giáo, thân tâm con người như một đền đài gồm 7 (bảy) sinh tầng:
• Tầng thứ nhất là Thể lý
• Tầng thứ nhì là Tâm lý
• Tầng thứ ba là Tâm sinh lý
• Tầng thứ tư là Tâm linh Tâm lý
• Tầng thứ năm là Tâm linh
• Tầng thứ sáu là Tâm linh siêu việt
• Tầng thứ bảy là Tối hậu, đền đài của tất cả đền đài, là siêu việt tuyệt đối.

Tâm Kinh thuộc về và là tiếng vọng của đền tầng thứ bảy. Hành giả bước vào tầng đền thứ bảy sẽ siêu việt tuyệt đối. Đó là ý nghĩa của Sanskrit ngữ Pragyaparamita. Đó là lý do cổ kinh này được gọi là Tâm Kinh, trung tâm điểm lời giảng dạy của Đức Phật.
1. Tầng đền thứ nhất, Thể lý, tương hợp với Hindu tâm đồ đã phát họa trong Vedas, Muladhara Chakra, (Luân Xa 1).
2. Tầng đền thứ nhì, Tâm lý, tương hợp với Svadisthana Chakra, (Luân Xa 2).
3. Tầng đền thứ ba, Tâm sinh lý, tương hợp với Manapura Chakra, (Luân Xa 3).
4. Tầng đền thứ tư, Tâm linh Tâm lý, tương hợp với Anahatta Chakra, (Luân Xa 4).
5. Tầng đền thứ năm, Tâm linh, tương hợp với Víshuddha Chakra, (Luân Xa 5).
6. Tầng đền thứ sáu, Tâm linh siêu việt, tương hợp với Ajna Chakra, (Luân Xa 6).
7. Tầng đền thứ bảy, Siêu việt Tuyệt đối, tương hợp với Sahasrara Chakra, (Luân Xa 7).

Sahasrara nghĩa là ngàn cánh hoa sen nở. Ngàn cánh sen nở cả bầu trời hương sen ngào ngạt, chân thiện mỹ tràn đầy, phép lành vây phủ. Trọng điểm, tâm kinh là lời giảng của Đức Phật đối với Sariputra về Hư Vô (Nothingness). Hư vô là vô thể, vô cảm, vô tri, vô thức, vô tâm, vô chủ thể, vô đối tượng, vô mê, vô tử, vô thủy, vô chung, vô ngã, v.v…. Do đó, khi thiền định thăng hoa, thiền giả trong Niết Bàn (Nirvana). Niết bàn là Tính Không (Sunyata). Tính Không tuyệt đối siêu việt tất cả hình thức nhị nguyên tính. Tâm không chứa nội dung, ngoại trừ chính nó.
Cũng vậy, Luận ngữ, một trong tứ thư của Khổng môn, đã ghi nhận:
“ Tử tuyệt tứ: vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã”.
Vô ý, vô tất, vô cố là không tiên kiến, không định kiến, không cố chấp, không chấp danh, không chấp hình tướng, không chấp tư tưởng… và vô ngã mới đạt Bồ đề tâm. Dĩ nhiên, muốn tuyệt tứ, thiền định là hướng đạo. Thiền định là đạo mà không là đích. Đích là bản lai diện mục, là Chân Như, là Tính Không.
Khi Pontius Pilate hỏi Jesus (Giê Xu):
“ Sự thật như thế nào về tang chứng và nhân chứng?”
Đức Jesus (Giê Xu) yên lặng không đáp lời các Linh mục và Trưởng lão, không đáp lời Pontius Pilate vì nơi họ không có sự thật, vì chân lý sâu rộng vô biên không thể định nghĩa, giải thích bởi ngôn ngữ. Chúa Giê Xu giử yên lặng vì Ngài minh thị chân lý không thể nói. Nói cách khác tri chân lý chỉ trực chỉ nhân tâm. Ngài muốn Pontius Pilate, các Tưởng Linh mục, và các Trưởng lão hãy trực chỉ nhân tâm để kiến tánh, tìm chân lý.
Một nhà thần học Đức, Johannes Eckhart (1260- 1328) đã nói: “Lành thay những kẻ thanh tịnh trong tâm để tất cả mọi sự cho Chúa bây giờ, như họ đã thấy ngay cả trước khi họ hiện hữu”.
Đó là cội nguồn linh thánh của tịch lặng thuần túy, sự tịnh tâm của con người trước khi hiện hữu.
Thánh Augustine cũng đã nói một cách khác:
“Có một cánh cửa trời để linh hồn đi vào thánh tính; ở đó, sự vật bị giảm trừ thành hư không”. Hư không này là Tánh Không (Sunyata), Chân Như của nhà Phật mà chỉ có tâm linh thiền định mới đạt chân tâm, tâm thức Bồ đề.
Hơn thế nữa, theo Tân Ước – John 3:13 : “ Chưa có ai lên Thiên đàng, ngoại trừ Đấng xuống tự Thiên đàng ”. Điều này có nghĩa là có thể về Thiên đàng nếu sinh ra tự Thiên đàng và Thiên đàng không phải là một vị trí, một nơi chốn, mà là tình trạng của tuệ thức. Sự trở về phải là một nhận định Thiên đàng ở bên trong.
Với Tâm Linh Thiền Định, hành giả trong hiện hữu chính mình, trong tịch nhiên của thức mà không làm bất cứ điều gì, không hành động, không tư tưởng, không xúc động. Ta hiện hữu. Điều mà Lão Tử gọi là “ Vi Vô Vi ”, tác động qua bất động tác. Điều mà Zen danh sư nói: “ Ngồi yên lặng không làm gì, mùa xuân đến và cây cỏ tự nó xanh tươi ”.
Thiền định là hiện hữu giây phút bây giờ, không quá khứ, không vị lai, siêu vượt thời gian. Một cách tự tính, không tư duy, không định hướng. Thiền định là dục vọng tự thăng hoa tình thương thâm cảm (compassion), hoa tâm nở và tràn ngập hiên hữu. Thiền giả là người có thâm tình, an vui để chia xẻ, sẵn sàng đón nhận và chờ đợi chia xẻ. Lãnh đạm trước mọi người, mọi cảnh, không là tâm trạng của thiền giả. Thiền không là kiểm soát, không đè nén dồn ép, vì những tính này làm cho thiền giả trở nên lãnh đạm, không tương thân, không yêu thương, và nhất là không tình thương thâm cảm. Thiền giả không cần tìm kiếm hạnh phúc mà vẫn sống trong an vui hạnh phúc, dễ dàng, thư thả với mọi người, mọi nơi. Tâm cành này đúng với phương ngôn Latin: “Agere Sequitur esse ”, hành động theo thực bản chất. Hãy theo bản chất thực sự của mình. “ Nhân chi sơ tánh bản thiện ”, Mạnh Tử đã nói. Thực bản chất là cái gì TA LÀ ( I am, You are ). Hãy cẩn trọng, thiền định không là lãnh đạm. Thiền giả đúng hành trình là người nhẹ nhàng, ấm áp, thâm tình với mọi người, không độ kỵ, không giận dỗi, không thù hận, không oán ghét, không bình phẩm. Tóm lại thiền giả biết mình đang tác động, đang ăn biết mình đang ăn, đang đọc biết mình đang đọc, v.v………
Bởi lẽ đó, nhân điện hành giả, khi điều trị bệnh, TÂM không rời bàn tay trên luân xa của bệnh nhân hoặc tập trung nhất điểm tại luân xa 6 của mình để truyền năng lượng vũ trụ. Nhất là trong khi trị bệnh ở phương xa hoặc trị bệnh tập thể bằng danh sách hay hình ảnh của bệnh nhân, nhân điện hành giả PHẢI TÂM TRỤ. Ngược lại, nếu một khoảng khắc nào hành giả xao lãng, tư duy, cảm xúc, thì chính khoảng khắc đó, năng lượng vũ trụ ngưng động luân lưu, điều trị không hiệu quả.
Lại nữa, thiền giả chấp nhận hiện hữu như nó là, nghĩa là nhìn sự vật như chính tự nó hiện hữu mà không tiên kiến, định kiến, thành kiến, định hướng. Nhìn một sự vật như chưa bao giờ biết nó, thấy nó. Gặp một người như chưa bao giờ hội ngộ, dù là sơ ngộ, nhất là không tư duy về tương quan chính mình với người tương hội. Đó là thiền tính quan trọng của hành giả nhân điện trong việc điều trị bệnh cho bất cứ ai, vì mọi bệnh nhân đến với mình đều là thân chủ, dù cho người đó, trước đây là “kẻ thù bất cộng đáy thiên” của mình. Ân nhân, bàng nhân, xa lạ, láng giềng, thân nhân, bằng hữu, tất cả đều được đối xử bình đẳng, thâm cảm, nhất là trong khi truyền năng lượng để điều trị bệnh.
Tổng lược, tâm linh thiền định theo Nhân Điện hay Trường Sinh Học là một tổng hợp và siêu vượt tất cả các nguồn thiền từ Vedas, Bhagavads Gita, Yoga Sutras của Patanjali, của Phật giáo đến tư tưởng của Lão Tử, Khổng Tử và Ki Tô giáo. Với nghành Nhân Điện, tâm linh thiền định là phương tiện trực tiếp đồng nhất với Tối Cao, thâm sâu nhất của vô ngã để đạt tâm đỉnh của vô ngã thức, Samadhi.
Samadhi là từ ngữ được dùng bởi Patanjali trong Yoga Sutras vừa đề cập trên, để diễn tả giai đoạn chót của thiền định, trong đó tâm trí hòan toàn tập trung và siêu thức bắt đầu. Hai loại Samadhi:
1. Shavikalpa Samadhi, tình trạng trong đó thiền giả thấy Thượng Đế trong ta. Từ đây, thiền giả vào
2. Nirvikalpa Samadhi, tình trang trong đó mọi thể dạng tan biến trong Thượng Đế, như Thánh Térésa đã nói: “Khi linh hồn nhìn lên Tối Cao, ánh sáng lóa mắt…chỉ còn lại hoàn toàn mờ mịt, tan biến, kinh ngạc và chóa mắt bởI tất cả kỳ diệu tương kiến”.
Thông thường, thiền giả phải trải qua nhiều thập niên, hy vọng có thể tự khai mở luân xa cho chính mình. Lắm khi, thiền giả suốt thiền trình, luân vẫn không được khai mở. Ngược lai, người hội nhập vào cộng đồng Tâm Linh Con Người Thiền Định (Spiritual Human Yoga) được khai mở tất cả luân xa ngoại trừ Muladhara Chakra gọi tắt là luân xa 1, sau khi hoàn tất cấp 3. Đến giai đoạn cao của Tâm Linh Thiền Định, năng lượng sinh động tự do di chuyển được gọi là Kundalini (Hỏa xà), tức Tâm Linh hay sự chuyển hóa năng lượng. Kundalini được mô tả như một sinh lực xoáy cuộn thăng thượng từ luân xa thấp nhất trong cơ thể, Muladhara Chakra (luân xa 1); như một năng lương thức tỉnh xuyên qua Sahasrara, luân xa chót (luân xa 7) được định vị trên đỉnh đầu. Kundalini bừng dậy đánh thức các tâm điểm cao của tâm thức. Kundalini sâu thẳm hơn cả sự chết, sâu hơn cả sự sinh, sâu hơn cả giòng máu chảy, vì Kundalini luân lưu trong nhị thân (etheric body). Khi sinh lực xuyên qua Kundalini, tất cả luân xa xóay động và nở hoa. Giây phút năng lượng sinh động này luân lưu làm tất cả luân xa sống động như một hệ thống thủy điện, lực và áp xuất nước làm máy phát điện liên tục vận hành.
Bởi lẽ đó, Kundalini được gọi là hỏa xà. Khi luân xa 1 được khai mở sức nóng của tâm nhiệt vũ trụ cuộn thẳng từ luân xa 1 đến luân xa 7. - Người mà hỏa xà hướng dậy thì sẽ thông thiên đạt địa, tận tri nhân thế, thông suốt vượt không gian và thời gian. Đó là lý do Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm truyền bát huấn tự “Hoành sơn nhất đáy, vạn đại dung thân” cho chúa Nguyễn Hoàng để an thân, tạo dựng cơ đồ, và mở mang bờ cõi Việt về miền Nam. Ơn ích mà mọi người dân Việt chúng ta thụ hưởng đời đời kiếp kiếp với khí thế từ nam dẫy Hoành Sơn và nhất là với vựa lúa phì nhiêu của đồng bằng miền Nam. Đó cũng là lý do La Sơn Phu Tử thị điểm cho Quang Trung Nguyễn Huệ trước khi ra quân phạt Thanh: “Chúa Công xuất quân lần này tất thành công”.
Tất nhiên thành công vì Thiên Địa Nhân hợp nhất trong bàn tay của vị anh hùng áo vải Tây Sơn. Sau đó, lệnh xuất quân trên đỉnh núi Tam Điệp ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân, đã thần tốc tiến như vũ bão về Thăng Long thành. Đúng như điểm ý của La Sơn Phu Tử và như lời hứa của Quang Trung, ngày mồng 5 tết Kỷ Dậu, đại quân ta chiếm Thăng Long thành. Hai mươi vạn quân Thanh không còn manh giáp, thây chết ngổn ngang trên sông Nhị Hà.
Để kết thúc về Tâm Linh Thiền Định, thiết tưởng, tôi (Thầy Đáng) muốn nhắc lại “Mục Ngưu Đồ”, một phép thiền định của Trung Hoa để từ đó có thể giải thích về tâm linh thiền định của Nhân Điện. Mục Ngưu Đồ là tiến trình thiền, ví tâm con người như con trâu và người tu thiền như mục đồng, theo tiến trình như sau:
1. “Vị Mục” là tâm ý của thiền giả còn xa rời, trâu dại còn đang lồng chạy.
2. “Sơ Điều” là giai đoạn mục đồng đã bắt được trâu, xỏ thừng vào mũi trâu, nhưng trâu vẫn còn hăng không theo, dù bị kềm chế.
3. “Thụ Chế” là giai đoạn trâu theo mục đồng, nhưng mục đồng vẫn phải canh chừng, nắm giữ.
4. “Hồi Thủ” là giai đoạn trâu đã thuần phục, nhưng mục đồng vẫn còn phải canh chừng.
5. “Thuần Phục” là giai đoạn trâu đã thuần phục, trâu theo mục đồng, dây thừng không còn xỏ mủi.
6. “Vô Ngại” là giai đoạn trâu và mục đồng tin nhau, mục đồng cho trâu tiêu dao mà trâu vẫn không rời mục đồng.
7. “Nhậm Vận” là giai đoạn mục đồng với trâu như hình với bóng.
8. “Tương Vong” là giai đoạn mục đồng với trâu là một.
9. “Độc Chiếu”, chỉ còn là một tâm sáng chiếu.
10. “Song Dẫn”, tâm cảnh biến mất, chỉ còn lại Chân Như.

Với tâm linh thiền định của Nhân Điện, người hội nhập cộng đồng Tâm Linh Con Người Thiền Định trong khi dùng Kim tự tháp để thiền định, chỉ trong 30 giây, đã vượt từ Vị Mục đến Song Dẫn trong quá trình 10 giai đoạn Mục Ngưu Đồ của thiền giả Trung Hoa. Vậy, tâm linh thiền định của nhân điện hành giả, nói theo ngôn ngữ thiền Trung Hoa, là Mục Ngưu Siêu Việt Đồ, hay đúng hơn, là Kim Tự Tháp Tâm Linh Đồ.

TƯƠNG QUAN TÂM THÂN VÀ LUÂN XA

Như tất cả Nhân Điện hành giả đã biết, gồm có bảy (7) luân xa (Chakras) hay trung tâm năng lượng:
• Muladhara (Luân xa 1)
• Swadhisthara (Luân xa 2)
• Manipura (Luân xa 3)
• Anahata (Luân xa 4)
• Vishuddha (Luân xa 5)
• Ajna (Luân xa 6)
• Saharara (Luân xa 7)

Cấu trúc của thân thể phức tạp và bao gồm 7 thân:
1. Thể Lý thân (Physical body)
2. Thanh thân (Etheric body)
3. Thiên thể thân (Astral body)
4. Linh hồn thân (Mental / Psychic body)
5. Tâm linh thân (Spiritual body)
6. Vũ trụ thân (Cosmic body)
7. Niết bàn hay Vô thân (Nirvanic / Bodiless body)
Những năm đầu tiên của con người, đệ nhất thân tức Thể lý thân phát triển, sáu thân khác đang tiềm tàng, ẩn phát. Những năm đầu hay những năm kế tiếp của từng giai đoạn phát triển, dài hay ngắn tùy theo mỗi cá nhân do yếu tố thụ bẩm, môi trường sinh trưởng, tiền kiếp đã trải qua.
Kế tiếp, Đệ nhị thân, Thanh thân, phát triển. Thời gian này, dục tính, xúc cảm, bắt đầu sinh động. Cuối thời kỳ đệ nhị thân phát tiển, con người đã đến giai doạn trưởng thành. Con người trách nhiệm về mọi tác động của chính mình.
Những năm kế tiếp, Đệ tam thân, Thiên thể thân, phát triển: suy tư, luận kiến, lý trí tương phát. Thời gian này con người thụ nhận và đóng góp vào sự giáo dục, văn hóa, và tiến bộ của xã hội, cộng đồng đang sống. Đây là thời kỳ chim con có thể rời tổ mẹ để bắt đầu tạo dựng tổ mới cho chính mình. Thời kỳ Đệ tam thân phát tiển cũng là thời kỳ mà Đệ nhất thân ngưng phát triển hoặc phát triển tiệm tiến để rồi ngưng lại, tùy theo mỗi cá nhân như đã dẫn giải trên. Trong xã hội văn minh, Đệ tam thân phát triển cao độ. Con người đóng góp tích cực vào sự phát triển quốc gia, xã hội. Thời kỳ mà Khổng Tử tự gọi là: “Tam thập nhị lập” (ba mươi tuổi bắt đầu lập thân).
Một cách tổng quát, phần lớn nhân loại dừng lại ở Đệ tam thân.
Đệ tứ thân, Linh hồn thân, phát triển với sự thụ nhận kinh nghiệm, thể nghiệm cao độ. Những kinh nghiệm bất thường của Đệ tứ thân: hiện tượng thôi miên, thần giao cách cảm, tuệ trí, nói theo nhà Phật là Bát Nhã kiến. Người có Đệ tứ thân phát triển có thể có tương quan với kẻ khác mà không gian, thời gian không là trở ngại. Người ấy có thể đọc được tư tưởng cảm nghỉ của người khác, làm cảm nhiễm mầm tư tưởng vào kẻ khác, có thể di chuyển ngoài thân xác, Đệ nhất thân. Thế giới của Đệ tứ thân là chủ thế giới mà là không đối tượng giới. Như đã nói, với Đệ tứ thân, chỉ có một số ít người có khả năng phát triển. Nhiều lần tôi đã nói trong những cuộc đại hội hoặc lớp học Nhân điện, là khi nào cần đến tôi, dù bất cứ nơi nào, thời gian nào, hãy mời gọi tôi, tôi sẽ đáp ứng.
Với Đệ ngũ thân, Tâm linh thân, vẫn còn là một viễn vọng, vì ngay cả Đệ tứ thân chỉ phát triển ở một số ít người. Nếu Kundalini vươn thượng và luân lưu trong tứ thân, thì người có Đệ tứ thân phát triển có thể bước vào Đệ ngũ thân; ngược lại bất khả thể. Do đó, rất ít người khám phá Đệ ngũ thân của mình, người của tâm linh. Khi một người vượt Đệ ngũ thân (Atma Sharir / Spiritual Body) có nghĩa là vượt trên Tự Ngã (Atman / Self ) (Tự Ngã được định nghĩa là tâm điểm của linh hồn, là Thánh linh), sẽ vào Đệ lục thân (Cosmic body / Brahma Sharir).
Đệ thất thân, Niết bàn hoặc Vô thân (Nirvanic body / Nirvana Sharir) là tâm cảnh mà không còn là thân. Đó là tình trạng siêu thoát, chỉ còn Hư vô, tất cả biến mất, không gì tồn tại.
- Có người hỏi Đức Phật: “ Điều gì xãy ra ở đó? Thưa Ngài!”
- Đức Phật đáp: “Ngọn lửa tắt”.
- “Rồi điều gì kế tiếp? Thưa Ngài”.
- “Khi ngọn lửa tắt, anh không thể hỏi: “Ngọn lửa đi về đâu? Bây giờ ngọn lửa ở đâu? Lửa đã tắt, đó là tất cả”.
Nirvana (Niết bàn) hàm nghĩa sự biến mất của ngọn lửa, ở đó là tất cả và tuyệt đối hư vô.
Tóm lại, bảy thân và bảy Luân xa tương hệ như sau:
1. Muladhavara, Luân xa 1, là luân xa của Đệ nhất thân, Thể lý thân.
2. Swadhisthana, Luân xa 2, là luân xa tương hệ với Đệ nhị thân, Thanh thân.
3. Manipura, Luân xa 3, là luân xa tương hệ với Đệ tam thân, Thiên thể thân.
4. Anahata, Luân xa 4, tương hệ với Đệ tứ thân, Linh hồn thân.
5. Vishuddha, Luân xa 5, tương hệ với Đệ ngũ thân, Tâm linh thân.
6. Ajna, Luân xa 6, tương hệ với Đệ lục thân, Vũ trụ thân.
7. Sahasrara, Luân xa 7, tương hệ với Đệ thất thân, Niết bàn hay Vô thân.
Tóm lược, luân xa 1 tương hệ với Thể lý thân, tính dục khởi phát tự nhiên để tạo sinh và trong diễn trình tiệm tiến của tâm linh cơ thể được chuyển hóa qua thiền định. Luân xa 1 và Thể lý thân rất quan trọng vì đây là một nơi khởi điểm cho một hành trình tiến đến Nirvana (Niết bàn).
Luân xa 2 tương hệ với xúc cảm hay Thanh thân tạo hai khả thể:
• Trước hết, bản chất tự nhiên của xúc cảm thân là hận, sợ hãi, tức giận và bạo hành.
• Thứ đến, với thiền định, những tâm trạng này sẽ được chuyển hóa thành yêu thương, can đảm, hiền hòa, thân hữu, và tha thứ.
Luân xa 3 tương hệ với Thiên thể thân cũng tạo hai khả thể:
• Một mặt là ngờ vực và diễn tiến tư tưởng.
• Mặt khác, ngờ vực và diễn tiến tư tưởng chuyển hóa thành tin tưởng và tri thức qua thiền định.
Luân xa 4 tương hệ Linh hồn thân với tự nhiên khả tính tưởng tượng và mộng tưởng. Trí tưởng tượng phát triển trở thành quyết định, ý muốn. Mộng tưởng chuyển thành thị điểm và siêu linh thị (Psychic Vision).
Câu chuyện một người đang trong giấc ngủ say, bỗng giật mình la lên:
“Mẹ đã chết! Mẹ đã chết!” và nước mắt ràn rụa.
Ngày hôm sau, nhận được điện tín, mẹ anh ta đã chết cùng giờ mà anh đang mơ thấy mẹ qua đời. Đó là một thóang mà luân xa giao tiếp với Linh hồn thân.
Từ Thể lý thân đến Linh hồn thân, diễn trình cảm nghĩ, tư tưởng, sinh hoạt vẫn trong thế giới nhị nguyên: Thiện – ác, sáng – tối, xấu – đẹp, Thượng Đế - Ác quỷ, chính nghĩa – phi nghĩa, thức – vô thức,……. Đến Đệ ngũ thân, Tâm linh thân, thì đã vượt trên nhị nguyên luận, nhị nguyên thế giới. Luân xa 5 tương hệ với Tâm linh thân, như đã nói trên, siêu vượt nhị nguyên thế giới, vượt khỏi vô thức (Unconsciousness), thường trực hành thức (awareness). Khi ngủ, thân xác ngủ nhưng tâm linh vẫn trong tình trạng thức. Tất cả cảm nghĩ, tư tưởng, tác động, ngôn ngữ,…. trong tình trạng liễu ngộ. Người trong ngũ thân này là Buddha, người khai ngộ. Tên của Đức Phật là Gautama Siddhartha, sau khi Ngài đạt được Tâm linh thân, trỏ thành Gautama the Buddha, Phật Thích Ca hay Đức Phật.
Luân xa 6 tương hệ với Vũ trụ thân, siêu thoát, Brahman. Brahman được định nghĩa là nền tảng của hiện hữu, bản chất của tạo vật, lực của sự sống (Life Force), và là thực thể tối hậu. Vì vậy, trong Trường Sinh Học hay Nhân điện, hành giả được huấn luyện để xử dụng Luân xa 6, Ajna Chakra, còn được gọi là con mắt thứ ba, hay Bát Nhã Kiến, là luân xa tương hệ với Vũ trụ thân, để điều trị bệnh cho thân chủ. Mắt thứ ba hoặc Bát Nhã kiến được dùng để nhìn vũ trụ vô hạn. Dùng Bát nhã kiến trong trường hợp điều trị bệnh tập thể, điều trị cho người ở bất cứ nơi nào trên địa cầu, và điều trị bệnh nhân có tên trong danh sách và hình ảnh. Thiết tưởng cần phải nói rõ, người xử dụng luân xa 6 không có nghĩa là đạt được Vũ trụ thân. Người đạt được Vũ trụ thân phải qua một trình tự như đã nói trên mà khởi điểm là Kundalini (Hỏa xà) bừng khởi từ luân xa 1 xóay động bởi một năng lượng tối thượng xuyên qua tất cả luân xa để ngàn cánh hoa sen nở tại luân xa trên thượng đỉnh đầu. Tương quan với Vũ trụ thân và chính Vũ trụ thân là hai điều khác biệt. Trở lại vấn đề luân xa 6, Bát Nhã kiến nhìn vũ trụ vô hạn, nên có thể xử dụng để điều trị bệnh trước một số đông bệnh nhân không hạn định. Câu hỏi được nêu lên về việc điều trị bệnh ở phương xa và người bệnh có tên trong danh sách như thế nào?
Khởi phát, người bệnh phương xa mong muốn được một hành giả nhân điện trị liệu cho mình, ý muốn này khởi tự tâm, tâm ba (âm ba, làn sóng hay tầng số rung động của tâm) truyền tức khắc vào không gian, vũ trụ miên viễn, với một tốc độ bất khả lượng, bất khả suy. Bất khả lượng, bất khả suy bởi vì đây là siêu tốc độ của lượng tử thức (quantum consciousness) thuộc lãnh vực tâm linh là một lãnh vực bất khả tư nghị. Nhà khoa học có thể khảo cứu về lượng tử cơ khí (quantum mechanics) mà không thể bước vào lãnh vực lượng tử thức. Dù là bệnh nhân phát khởi ý muốn chữa bệnh bằng ngôn ngữ, động ba (làn sóng từ động tác) từ viết thư vẫn là phụ điểm mà điểm chính là tâm ba. Do đó nhân điện hành giả dùng luân xa 6, Bát Nhã kiến để thu nhận tâm ba từ người bệnh, như một linh cảm nghiệm, và từ đó truyền năng lượng để điều trị bệnh. Mặt khác, sau khi có tâm ý, bệnh nhân sẵn sàng chờ đón nhận năng lượng để hồi phục. Tóm lại, tâm phát khởi, tâm đón nhận, năng lượng truyền đạt và năng lượng thu nhận hòa điệu giữa bệnh nhân và nhân điện hành giả.
Bởi lẽ đó, bệnh được mau chóng hay chậm bình phục, bình phục hay không bình phục do 3 yếu tố:
1. Thành tâm, tín tâm của người bệnh.
2. Chú tâm, trụ tâm, phát tâm của nhân điện hành giả, khi xử dụng luân xa 6 để điều trị.
3. Về phương diện thể lý, người bệnh ít ra còn khả năng thu nhận năng lượng vũ trụ được truyền tiếp.
Luân xa 7, Sahasrara Chakra, tương hệ Niết bàn hoặc Vô thân. Nirvana (Niết bàn) có nghĩa là Hư vô, nơi siêu việt từ sinh diệt (being) đến bất sinh diện (non-being). Vì vậy, Niết bàn hoặc Vô thân là một cái chết tuyệt đối, là sự tắt lịm của ngọn đèn. Chết tuyệt đối không có nghĩa là triệt tiêu, mà có nghĩa là sự sống trước đó không còn, cái chết của quá khứ, từ đó, sinh diệt và bất sinh diệt, ánh sáng và bóng tối, sinh và tử, … đồng thời hiện hữu. Đó là tối hậu đạt được mà ngôn ngữ nhị nguyên không thể diễn tả. Đó là lý do tại sao các cổ kinh chấm dứt tại Đệ ngũ thân và huyền bí bắt đầu từ Đệ lục thân, Vũ trụ thân. Đức Phật đã nhập vào Đệ thất thân và hội nhập Nirvana (Niết bàn).






TÂM LINH

Tâm linh là vùng sâu thẳm cần nghiên cứu của Tâm Linh Con Người Thiền Định (Spiritual Human Yoga – SHY). Tâm linh không thể nói, không thể định nghĩa. Đó là điều mà Lão Tử đã nói trong đoạn mở đầu của Đạo Đức Kinh: “Danh khả danh phi thường Danh”
Danh mà có thể định nghĩa được, giải thích được, không phải là danh thường. Thường có nghĩa là thường hằng, vĩnh cửu, bất biến. Tuy nhiên, chúng ta có thể đưa ra một số ý niệm về tâm linh. Trước hết, tâm linh là một huyền bí mà hành giả cần phải trầm tư mặc tưởng hay thiền định mà không đưa ra bất cứ định nghĩa nào. Thứ đến, cần ghi nhớ điều này, tất cả mọi định nghĩa, giải thích chỉ là một dụng cụ, một phương tiện, kẻ này định nghĩa cách này, người khác định nghĩa cách khác. Mọi định nghĩa vừa sai, vừa đúng. Đó là lý do Đức Phật đã không trả lời những câu hỏi về vũ trụ, về Thượng Đế, về hiện hữu bên kia đời sống. Khi Malunkyaputra đến hỏi về vũ trụ, về sau khi chết, v.v… Đức Phật đã trả lời: “ Anh hỏi để giải quyết vấn đề hay để tìm câu trả lởi?”
Malunkyaputra đáp:
- “Tôi đã hỏi Ngài và Ngài đã trả lời bằng cách hỏi lại tôi, xin hãy cho tôi nghĩ kỹ về điều này.”
Hôm sau , Malunkyaputra nói:
- “Thưa Ngài, thật sự tôi muốn giải quyết vấn đề.”

Đức Phật:
- “Anh đã hỏi người khác về những điều mà anh đã hỏi tôi?”
- “Tôi đã liên tục đặt những câu hỏi như vậy với nhiều người trong nhiều năm qua.”
- “Anh đã được nhận nhiều câu trả lời và có trả lời nào giải đáp vấn nạn của anh không?”
- “Thưa Ngài, không.”
- “Ta không có câu trả lời nào. Trong nhiều năm qua, anh đã hỏi và được giải đáp. Vậy ta sẽ đưa ra giải pháp mà không trả lời.”
- “Vâng, tôi xin nhận lãnh.”
- “Giải pháp không nơi ta mà chính là anh. Hãy yên lặng trong một năm và không có bất cứ một câu hỏi nào được nêu. Hoàn toàn tịch nhiên, theo ta, và sau một năm, anh có thể hỏi. Ta sẽ giải đáp.”
Trong khi đó, Sariputra, trưởng môn sinh của Đức Phật, yên lặng mỉm cười.
Một năm qua, Malunkyaputra vẫn yên lặng thiền định. Ông đã quên rằng một năm đã qua. Ngày ông được nêu ra câu hỏi, ông đã quên.
Đức Phật gọi và nói:
- “Malunkyaputra, tôi giữ lời hứa. Vậy anh hỏi và tôi sẽ trả lời.”
Malunkyaputra đáp một cách cung kính:
- “Thưa Ngài, người muốn hỏi đã chết.”
Nhân câu chuyện vấn đáp giữa Đức Phật và Malunkyaputra nêu trên, tôi muốn nhấn mạnh rằng, trong những khóa học Nhân điện về tâm linh, tôi đã xử dụng ngôn ngữ của thế giới nhị nguyên để giải đáp những vấn đề thuộc lãnh vực siêu hình, mà từ đó, người được giải đáp (học viên) phải qua lời mà TÌM HIỂU LINH Ý.
Cũng vậy, kinh điển cũng chỉ là phương tiện và được viết ra bằng ngôn ngữ nhị nguyên. Do đó, ĐỌC KINH PHẢI BỎ KINH MÀ TÌM Ý. Tôi xin đơn cử một câu chuyện: một người gặp cơn nguy hiểm đến tính mạng, chạy đến bờ sông. May mắn gặp được một chiếc thuyền con, mừng quá, người ấy vội vã xuống thuyền và bơi qua bên kia bờ, thóat nạn. Nhờ chiếc thuyền cứu nạn, người nọ, suốt đời còn lại, đi đâu cũng vác theo chiếc thuyền con trên vai mình. Về phương diện đạo lý, tác động vác thuyền mãi trên vai là ĐI VÀO MÊ MUỘI. - NƯƠNG KINH hay PHÁP để LIỄU NGỘ, khi LIỄU NGỘ BỎ KINH. Đáo bỉ ngạn , PHẢI BIẾT VỨT BỎ CHIẾC THUYỀN ĐƯA SANG SÔNG.
Vậy, tâm linh là cái gì tiên thiên tri thức, bên kia trí tuệ, một vài sự kiện đến mà lý trí hoàn toàn không tường tận. Chẳng hạn, Huệ Năng, Tổ thứ sáu của Thiền Tông Trung Hoa, là người đốn củi, chỉ nghe một đoạn trong Kinh Kim Cương, bừng liễu ngộ và sau đó được Ngũ tổ Hoằng Nhẫn trao y bát. Lời giảng của Huệ Năng được ghi nhận trong Pháp Bảo Đàn Kinh đã đóng góp giá trị vào kho tàng Phật pháp kinh. Lại nữa, Mohammed là một người hướng dẫn đoàn lạc đà vận chuyển hàng hóa cho quả phụ Khadijala, đã được mặc khải từ Thượng Thiên và Kinh Koran từ vị Truyền thông (Messenger) này đã chiếm một địa vị quan trọng trong sinh lực Trung Đông kể từ thế kỷ thứ VII.
Albert Einstein đã nói: “Thời còn trẻ, tôi thường nghĩ rằng, sớm hay muộn, tất cả những bí ẩn của hiện hữu sẽ được phơi bày, nên tôi đã cố gắng và khó nhọc làm việc. Nhưng bây giờ, càng biết thì càng thấy hiện hữu càng bí ẩn. Càng biết bao nhiêu, thì lại càng thấy vũ trụ lại càng rộng lớn, bao la bao nhiêu…” Thực vậy, khoa học không thể khám phá bí mật của hiện hữu. Cũng theo nhà bác học Albert Einstein, khoa học chẳng những thất bại trong khám phá bí mật của hiên hữu, ngược lại, nó còn làm cho hiên hữu trở nên huyền bí. Chẳng hạn, vào thế kỷ XIX (19), khoa học gia cho rằng tát cả đều là vật thể. Vật thể được khám phá là năng lượng. Năng lượng không là vật thể. Vật thể tĩnh, năng lượng động.Vật thể có thể đo lường. Năng lượng như năng lượng vũ trụ bất khả lượng, vì vô biên. Không có một phương trình toán học nào có thể đo hay tính năng lượng vũ trụ. Phương trình về năng lượng nổi danh của Einstein mà nhiều người đã biết cũng chỉ là phương trình tính năng lượng của vật thể chuyển động và chuyển hoán giữa vật thể và năng lượng. Huyền bí tiềm ẩn trong Nguyên lý Tuyệt đối có trước hiện hữu. Huyền nhiệm bao la như chính bao la trong huyền bí của Thượng Đế. Một vật lý gia và Thiên văn học người Anh quốc, Sir Arthur Stanley Eddington đã nói: “Vũ trụ không còn giống như một vật thể, mà là một tư tưởng.” Điều này có nghĩa, vũ trụ như một thức hơn là một vật thể. Vật thể có thể được phân tích đến vi thể như lý thuyết về lượng tử (quantum theory) trong Vật lý học, lý thyết dựa trên quan niệm của lượng tử (quantum unit) để mô tả động tính của hạ nguyên tử vi phân (dynamic properties of Sabatomic articles) và tác động tương phản của vật thể và phóng xạ. Nền tảng lượng tử thuyết được phác họa bởi Max Planek, một vật lý gia người Đức trong năm 1900 về năng lượng có thể phóng ra hay thu nhận bởi siêu đơn vị vật thể gọi là lượng tử (quanta). Cũng một vật lý gia người Đức, Werner Heisenberg, năm 1927, trong một nguyên lý không chính xác, xác nhận rằng, vị trí và động lượng (momentum) của hạ nguyên tử vi phân (subatomic particle) không thể xác định cùng lúc.
Giải thích về Vật lý học nêu trên, để thấy rằng, ngôn ngữ khoa học không thể giải thích bí ẩn trong vật thể mà một ngông ngữ đúng cho bí ẩn này chỉ tìm thấy trong một Đức Phật, một Lão Tử, một Mahavira , một Jesus Christ (Giê Xu).
Một đơn cử khác, theo hình học Euclid, là một điểm hoặc một đường, một vật không thể là một điểm và là một đường cùng lúc. Một đường có nghĩa là tổng hợp nhiều điểm theo một liên tục (sequence), như hình dưới đây:
------------------------------------------------------------------
Nhưng, điện tử (electrons) thì đồng thời là một điểm và là một đường, là một vi phân, một làn sóng. Giải thích như thế nào?

Để kết luận, tâm linh, chân lý, là những gì không thể giải thích, mà là mặc khải, tâm truyền, trực nhận. Tâm linh thể nghiệm tự chính nó. Tất cả Upanishads là một tự giải thích mà không có bất cứ một giải thích khả thể tự bên ngoài. Hãy đến tận bên trong thể nghiệm, Thảng hoặc, nếu dùng ngôn ngữ nhị nguyên để truyền đạt như tôi đã nói trên, thì người nhận tìm tinh ý rồi bỏ lời. Nói rõ hơn, không thể định nghĩa ánh sang cho một người mù bẩm sinh, mà chỉ có thể phân tích, giải thích ánh sáng cho người thấy ánh sáng. Bởi lẽ đó, trong khi giảng dạy cho môn sinh, Đức Phật đã dùng ẩn ngữ, ngụ ngôn. Ngài bảo:
“ Hãy theo ngón tay ta mà tìm trăng.”
Ngón tay chỉ trăng, ngón tay là Phật pháp. Trăng là chân lý; ngón tay không phải là chân lý. Cũng vậy, trong pháp Trường Sinh Học hay Nhân điện, các cấp lớp là ngón tay chứ không phải chân lý. Theo ngón tay mà tìm được trăng hay không là do chính mình; nhược bằng, hành giả sẽ chết trong ngón tay, vì ngón tay.
Đó cũng là lý do các môn đệ đã hỏi Chúa Giê Xu:
“Thiên đàng giống như cái gì? Mà không thể hỏi “Thiên đàng là gì?”
Và Đức Giê Xu cũng đã trả lời một cách dụ nghĩa từ điều đã biết để môn sinh tự đó mà tự mình tìm cái chưa biết.
Ngài nói: “Thiên đàng như một hạt cải, một loại hạt nhỏ nhất, nhưng khi được gieo trồng, nó trở thành một cây lớn làm nơi trú ẩn cho tất cả chim trời.”
Đức Giê Xu thường dùng hạt cải (mustard seed) như một ẩn dụ để giảng giải vì nhiều lý do. Hạt cải là hạt nhỏ nhất, cái nhỏ nhất trong thế giới khả thị. Hạt cải rất nhỏ, nhưng cây lớn. Thương đế bất khả thị, vũ trụ khả thị. Vũ trụ là cây, Thượng đế là hạt. Thượng đế không hiện hữu mà vũ trụ hiện hữu. Bẻ gãy một hạt cải sẽ không thấy cây ẩn náu bên trong. Do đó, kẻ vô thức sẽ đưa lý chứng rằng không có cây bên trong. Sự thực, cây lớn phát sinh từ cái bất khả thị. Người vô thức tìm cách phân tích và giải thích huyền bí, tất không khám phá được gì và cho rằng: “ Đó chỉ là huyền bí, không là chân lý, không là lịch sử, không là sự kiện.”
Trở lại vấn đề Nhân điện, vũ trụ năng lượng bất khả thị, người bệnh bình phục thì khả thị; dùng luân xa 6 truyền năng lượng thì bất khả thị. Không thể phân tích cái huyền nhiệm của năng lượng vũ trụ, mà chỉ bước vào để thể nghiệm, để chứng nghiệm sự hiệu quả của điều trị bệnh bằng năng lượng vũ trụ và sự bình phục của bệnh nhân. Đó là lý do những khóa học cao cấp về nhân điện được chú trọng về tâm linh và đạo lý.




ĐẠO LÝ
Đạo là gì?
Đạo là một danh từ tương đối nhị nguyên được dùng để biểu thị một Tuyệt Đối, một Thiên địa thể tính. Do đó, Đạo không thể định nghĩa. Nếu Đạo mà định nghĩa được thì điều được định nghĩa không là Đạo. Trước khi rời nhà Chu đi tàn ẩn và bị quan Lệnh, Dõan Hĩ, cưỡng bách viết lại chân nghiệm của mình, Lão Tử đã khởi đầu bộ sách trên 5.000 lời, rồi ra đi:
“ Đạo khả Đạo phi thường Đạo
Danh khả Danh phi thường Danh
Vô danh thiên địa chi thủy
Hữu danh vạn vật chi mẫu.”
Có nghĩa là: “ Đạo mà định nghĩa được không phải là Đạo thường hằng. Danh mà nói lên được không phải Danh thường hằng. Không tên là nguồn gốc của trời đất. Có tên là nguồn gốc của vạn vật.”
Cũng vậy, trước khi nhập Niết bàn, Đức Phật gọi Văn Thù mà nói rằng: “Suốt bốn mươi chín năm ta chưa từng thuyết lý một lời nào. Đừng bảo rằng ta đã thuyết lý.”
Tinh ý nêu trên của Lão Tử và Đức Phật không có nghĩa là không giảng giải về Đạo lý mà hàm dụ nghĩa là lời dạy của các bậc chân sư hoặc điều ghi nhận trong các kinh sách chỉ là nhị nguyên ngôn ngữ trong thế giới nhị nguyên, người thụ nhận phải biết bỏ lời mà ngộ ý. Thánh nhân từ ý được thể nghiệm nói ra lời, người nghe hoặc đọc từ lời tìm ra ý. Ngôn ngữ, kinh sách chỉ là phương tiện chuyên chở ý tưởng mà không là ý tưởng.
Để diễn đạt quan điểm nói trên, tuần tự giản lược ngôn ngữ, kinh sách, đến hủy bỏ toàn bộ kinh sách, ngôn ngữ mà đạt chân lý, có người đã nói: “Nếu tất cả Tân Ước bị mất và chỉ còn lại Lời Giảng Trên Núi (Sermon on the Mount) thì cũng đủ tất cả những thiết yếu để theo lời dạy của Giê Xu. Nếu tất cả cổ kinh Phật giáo bị mất và chỉ còn lại Dhammapada cũng đủ để noi heo đường của Đức Phật.
Dhammapada không chứa đựng những câu chuyện, những ngụ ngôn và những diễn giải về lời dạy của Đức Phật từ cổ kinh, mà là một sưu tầm những giảng dạy của Ngài từ các môn đệ trực truyền. Dham- mapada là Pali ngữ có hai ngữ căn Dhamma và Pada .
Dhamma là quy luật tổng quát bao gồm tòan vũ trụ tương quan, hòa nhịp đồng điệu của vạn vật từ một mảnh lá cỏ cho đến một hành tinh vĩ đại. Dhamma còn có nghĩa là chính trung tâm ta, chủ thể, chân lý của ta. Chân lý không bao giờ là một lý thuyết, một định đề mà là một thể nghiệm. Ta có thể giải thích để tìm chân lý nhưng không thể nói chân lý là gì.
Pada là con đường (Path). Tôn giáo có hai vấn thức:
1. / vấn thức “là gì”, bất khả tư nghị
2. / vấn thức “như thế nào”, thì khả nghị, có thể chia xẻ.
Đó là nghĩa của Pada. Có thể chỉ “con đường”, làm sao để hành hương, để đến đỉnh Kim tự tháp của Tâm mình.
Lời Giảng Trên Núi là tâm huyết, tâm đạo, từ trên đỉnh núi, có nghĩa là từ Thượng Thiên, sau khi Đức Giê Xu lên núi và ngồi xuống giảng dạy cho các môn đồ.
Từ các cổ kinh chính yếu, từ lời giảng của các bậc Chân Sư, người đọc và người nghe, cảm nghiệm ý, lời nào đánh động tâm điểm mình, hãy để cho tâm ý của người xưa trở thành tâm ý mình và liểu ngộ. Do đó, khi các bậc chân sư viện dẫn kinh sách để giảng thuyết cho môn đồ, thì phải đạt tâm ý rằng, kinh sách đây không phải là chính cổ kinh mà là cổ kinh được dùng để giải tâm ý, thể nghiệm của các bậc chân sư ấy.

ĐẠO VÀ ĐỜI
Để dẫn giải về Đạo lý, thiết tưởng tôi (Thầy Đáng) cần lược khảo về Đạo và Đời, tâm điểm của Đạo và đạt Đạo.
Đây cũng là quan điểm mà Tuân Tử đã nói trong Trung Dung, một trong Tứ Thư của Khổng môn:
“ Đạo giã giả bất khả tu ly giã, khả ly phi Đạo giã ” nghĩa là:
“ Đạo không thể lìa đời, lìa người, nếu Đạo ma xa rời đời thì không phải là Đạo”.
Từ trước, Khổng Tử cũng đã nói:
“ Đạo bất viễn nhân, nhân chi vi đạo nhi viễn nhân, bất khả dĩ vi Đạo ” có nghĩa là :
“ Đạo không xa con người. Hành đạo mà tách rời người thì không là Đạo”.
Sự hiện hữu của các bậc chân sư là một biện minh hùng hồn nhất về Đạo được đưa vào đời, để đời được cải thiện và người đời tiếp tục hoằng dương Đạo pháp để thăng tiến đạt Đạo. Chẳng hạn, sự giáng sinh và khai ngộ của Đức Phật, giáng sinh và bị đóng đinh trên thập tự giá của Đức Giê Xu, là những điển hình sáng chói nhất của Đạo vào đời. Như đã nói ở phần “khải nhập”, hành đạo lý tất gặp khó khăn. Khó khăn chính không tại ngoài mà tại chính ta. Vương Dương Minh, một học giả Trung Hoa đã nói: “Thắng một vạn quân trên đỉnh núi dễ hơn tự thắng lòng mình”.
Trong Dhammapada, Đức Phật cũng đã nói:
“ Người tự thắng dũng mãnh hơn một ngàn lần của người thắng ngàn quân trên chiến trận”.
Do đó, vào đường Đạo không phải là lối vào với cửa rộng thênh thang; và để trả lời câu hỏi về sự cứu rỗi, Chúa Giê Xu đã nói: “Hãy gắng sức vào cửa hẹp vì ta nói cùng các ngươi, nhiều người sẽ tìm cách vào mà không được”.
Cửa hẹp, vì đường vào Đạo lắm khó khăn. Con đường hẹp này chính là hành trình của ta trên đó, vì ta có trọng trách hành Nhân đạo, Nhân đạo tức là Thiên đạo. Điểm quan trọng của Đạo lý là tình thương mà sẽ được thảo luận trước nhất trong chương này. Thật vậy, tình thương là tâm điểm của Gita, đây là cá nhân hiến dâng, là động năng lực của đời sống tâm linh. Tất cả mọi tôn giáo đều đồng một quan điểm này. Vậy như thế nào là tình thương ?
Tình thương là nghĩ về ngườI khác, là NHÌN NGƯỜI KHÁC TẬN ĐÁY LÒNG. Tình thương là luôn luôn sẵn sàng hiến dâng, sẵn sàng để phục vụ. Ngược lại, NGÃ (cái TÔI ) chỉ chú tâm về mình, chỉ dùng ngườI khác, và nhất là thấy mình cao cả. Người biết yêu thương không được xem như là người hành khất mà là một vương giả. Yêu thương không đòi hỏi sự trả lại mà chỉ ban phát trong niềm vui của ban phát. Đức Phật đã định nghĩa: “Yêu và thiền định là thâm tình”.
Yêu thương là một yên hàn. Khi yêu thương chính là lúc yên hàn, nhẹ nhàng, êm ái. Ngược lại, không thể êm dịu, nhẹ nhàng, âu yếm với người không yêu thương và cảm thấy như kẻ thù quanh quẩn ở đâu đây. Đó là lý do tại sao Jean Paul Sartre (một triết gia Pháp của chủ nghĩa hiện sinh) đã nói: “Tha nhân là địa ngục”.
Khi không có tình thương giữa hai người, thì tha nhân là địa ngục. Ngược lại, nếu tình yêu thắm thiết giữa hai người thì tha nhân là địa đàng. Do đó, tha nhân là thiên đàng hay hỏa ngục tùy theo ở đó có tình thương đang trôi chảy giữa hai người hay không. Bất cứ khi nào bạn vào trong tình yêu thì sự yên lặng đến, ngôn ngữ mất, vì lời không đủ ý nghĩa phát biểu cho ý tưởng, cảm nghĩ tràn ngập cùng lúc. Sự yên lặng bao phủ và trong yên lặng tình yêu nở hoa. Đó là lý do nguyện cầu trong yên lặng. Ngoài ra, với Đạo Phật, đức từ bi thể hiện phổ thông nhất là ngũ giới mà mọi người đều biết.
Trung Dung, một trong Tứ Thư đã nói: “Nhân giả, nhân giả ”.
Có nghĩa: Đức nhân là chân lý để làm người vậy.
Khổng Tử cũng đã nói: “Quân tử khử nhân, ô hồ thành danh”. Có nghĩa là: Người quân tử bỏ đức nhân mà lại được thành danh sao.
Về tình thương, trong lời giảng trên Núi, một cách triệt để, Đức Giê Xu đã nói:
“ Người hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ bạc đãi mình”.
Mặt trái của yêu thương là hận thù. Hận thù phải được biến đổi để thăng hoa thành tình thương. Hận thù phải được hóa giải thành tình thương, vì khi thù hận, giận dữ, chính mình sẽ thiêu đốt mình trong hỏa ngục; tự mình đày đọa lấy mình trong giận dữ, uất hận. Nếu tìm cách trả thù oán thì oán thù sẽ tiếp tục triền miên và dĩ nhiên cuộc đời mình đắm chìm sâu trong hỏa ngục. Để thoát khỏi ngục tù thù hận này, Lão Tử đã nói: “Dĩ đức báo oán”.
Lấy đức mà trả óan. Đức đây là tình thương. Vậy lấy thương yêu mà đối lại với óan hận thì thù hận sẽ tiêu tan. Ngoài ra, Lão Tử cũng nói đến đức “ TỪ ”; Từ như trong Từ bi của Phật, là lòng yêu thương mọi người bất luận thù, bạn, xa, gần, thiện, ác, chủng tộc, màu da:
“ Nhất viết Từ ”, nghĩa là: Một là Từ, Đức trên hết, hoặc “ Từ cố năng dũng ”, nghiã là Từ mới có dũng. Lấy đức báo oán và yêu thương tất cả mọi người vô điều kiện, chính là người đại dũng trên đời vậy.
Đối với Tâm Linh Con Người Thiền Định (Spiritual Human Yoga – SHY), tình thương là trước nhất. Tình thương của nhân điện hành giả là Từ bi của Đức Phật, là Từ của Lão Tử, là đức Nhân của Khổng Tử, và là tình thương mà chúa Giê Xu đã truyền giảng trên núi. Với tình thương của Tâm Linh Con Người Thiền Định này, nhân điện hành giả mới tự cứu mình, cứu thân nhân mình, cứu nhân loại, trong đó có quốc gia, xã hộI mà mình đang sống với. Như đã nói, nếu không có tình thương, mọI tác động của nhân điện hành giả đều vô hiệu lực.
Để kết thúc về tình thương trong Tâm Linh Con NgườI Thiền Định, tôi tạm dịch mấy vần thơ “ Tình Yêu Bất Diệt” của Rabindranath Tagore , một thi sĩ nổi tiếng của Ấn Độ và của thế giới:
Ta yêu người trong muôn thuở vạn lần,
Trong ngàn kiếp ngàn đời miên viễn.
Tâm đam mê trong chuỗi hạt tình ca,
Khóac tràng hạt người đeo trên vạn thể,
Trong ngàn kiếp ngàn đời miên viễn.

Nói đến tình thương mà không đề cập đến những hệ luận của nó là một thiếu sót. Do đó tôi (Thầy Đáng) sẽ trình bày quan điểm về tha thứ, tương thông thâm cảm (compassion), bố thí, hạnh phúc, là những phẩm hạnh trên Đạo lý.
Trước hết, chưa thấy ai có tình thương mà không tha thứ; và ngược lại, nếu ai không tha thứ, THA THỨ VÔ ĐIỀU KIỆN, thì người ấy chưa thật sự có tình thương. Tha thứ là một phẩm quan trọng của tình thương. Tha thứ chẳng những cho người, mà là còn cho chính mình. Khi một người có lầm lỗi, nếu không tự tha thứ, thì hốI hận sẽ dày vò, và lưu đày mình trong ngục tối của ân hận suốt cuộc đời. Đời người, ai mà không lầm lỗi, điều quan trọng là biết ta mình có lỗi lầm. Biết mình có lỗi lầm, từ đó ta mở đại lượng để tha thử cho người khác, cho mọi người. Không gì bằng câu truyện trong Thánh Kinh, Tân Ước dưới đây về lỗi lầm và tha thứ.
Một sáng, trong khi trở lại đền thờ, đám đông gồm có người Pharisees mang một người đàn bà phạm tội tà dâm và nói với Ngài:
“Theo luật pháp của Moses truyền rằng, người đàn bà phạm tội quả tang này phải bị ném đá. Ngài nghĩ sao?”
Đức Giê Xu cúi xuống, viết trên đất bằng ngón tay mình, như không nghe lời tố cáo. Tuy nhiên, họ vẫn tiếp tục hỏi. Ngài ngước lên và nói rằng: “ Ai trong các ngươi là kẻ vô tội, hãy trước nhất. ném đá vào người đàn bà này ”. Rồi Ngài cúi đầu tiếp tục viết trên mặt đất. Thức tỉnh bởi lương tri, mọi người lần lượt yên lặng ra đi, chỉ còn lại người đàn bà và Đức Giê Xu. Ngài ngẩn lên không thấy ai, ngoại trừ người đàn bà còn yên lặng đứng tại chổ. Ngài hỏi: “Này bà, những kẻ tố cáo bà đâu rồi ? Không ai kết tội bà sao?”
Người đàn bà trả lời: “ Thưa Ngài không ”.
Ngài nói: “Ta cũng không định tội bà. Hãy đi, đừng phạm tội nữa”
Hơn thế nữa, tình thương cao độ khi ngàn cánh hoa nở từ con tim mình, tất nhiên , ta sẽ tương thông thâm cảm. Tương thông thâm cảm là vui theo niềm vui của người, đau xót theo niềm đau xót của kẻ khác, là tình thương đến độ mà ta và người là một; xa hơn nữa, ta và vật là một.
Tương thông thâm cảm siêu vượt không gian lẫn thời gian.Trong cuộc chiến Việt Nam hơn 20 năm qua, có những bà mẹ, khi nhận được tin con mình tử trận, đã ngã lăn ra, tắt nghẹn, lịm dần, và bất tỉnh, “chết” như con mình đã chết. Đó là tương thông thâm cảm (compassion). Được tin động đất ở Đài Loan (Taiwan), Mễ Tây Cơ (Mexico), thủy nạn ở Trung Hoa, bảo lụt ở Việt Nam, hàng ngàn người chết, mất tích, hàng ngàn nhà cửa đổ nát, người với tình thương thâm cảm thấy mình như trong cơn hoạn nạn, như chính là người bị nạn.
Với phẩm hạnh này, nhân điện hành giả mới trụ tâm cầu nguyện để làm vơi đi niềm đau khổ của đồng bào, đồng loại.
Tiếp đến, bố thí là Thiên Nhân hạnh, là hạnh của Trời và Người, và phát xuất từ tình thương, nhất là tương thông thâm cảm. Trời che tất cả mọi người, mọi vật, không bỏ ai, bỏ vật nào, kể cả kẻ thiện ngưới ác, kẻ sát nhân, người tu hành, ác thú, chim muông, đại thụ, cỏ rác. Đất chở tất cả sinh vật muôn loài mà không bỏ vật nào. Trời đất che chở, ban phát cho vạn vật trường sinh; người với tình thương cũng noi theo trời đất mà ban phát cho mọi người, mọi vật không phân biệt.
Đức Phật đã nói: “Một lần trọng kính bố thí cho một ngườI hơn cả ngàn lần tụng niệm, tháng này sang tháng khác trong hằng trăm năm”.
Phương ngôn Việt Nam cũng đã nói:
“Dù xây chín vạn phù đồ
Không bằng làm phước cứu cho một người”.
Bố thí không đơn thuần vật chất mà còn bao gồm cả tình thương, niềm vui, nỗi hân hoan, lời nguyện cầu, v.v…Ngoàì ra, cách bố thí cũng không kém phần quan trọng. Đó là “ Cách cho hơn của đem cho ”, tục ngữ Việt Nam đã nói. Thực vậy, Đức Giê Xu đã nói: “ Đừng cho kẻ khác biết tác động từ thiện của mình. Bằng không, người sẽ không nhận được phần thưởng của Cha các người trên trời ”.
“ Vì vậy, khi bố thí thì đừng công bố như người giả đạo đức trong giáo đường và ngoài đường phố để được người thường tôn kính ”.
“ Khi bố thí, đừng cho tay trái biết tay phải đã làm gì ”.
LờI dẫn giảI trên đây quả là một lờI dạy vô vàn cho nhân thế mà Đức Giê Xu đã truyền rao trên đỉnh núi cho môn đồ.
Nói đến bố thí mà không đề cập đến thụ nhận là một khiếm khuyết; vì bố thí và thụ nhận là hai mặt của một hiện tượng. Nói cách khác, không thụ nhận hàm nghĩa là không bố thí hoặc khó bố thí, vì cho và nhận phải được lưu thông tương hợp hai chiều như hai huyết hệ, động mạch và tĩnh mạch trong cơ thể con người. Tĩnh mạch nhận máu về tim từ các vi huyết quản, và ngược lại, động mạch đưa máu luân lưu tòan thân tận vi huyết quản để nuôi dưỡng tế bào. Nhịp con tim để thu nhận và lưu truyền máu trong tĩnh và động mạch là nhịp đập của tình thương.
Như đã nói trên, cầu nguyện là hệ luận của tình thương hay đúng hơn là chính tình thương được thể hiện siêu vượt. Tình thương là thể mà cầu nguyện là dụng vượt thể. Tình thương được thể hiện giữa người và người, giữa người và vật. Ngược lại, cầu nguyện là tâm linh cảm giữa một siêu thể và một Tổng hợp siêu thể hay là một hội nhập giữa một cá thể tâm linh (Spirit) và Tối Cao Tâm Linh (Highest Spirit). CẦU NGUYỆN là một THỂ CAO NHẤT CỦA TÌNH THƯƠNG, vì tình thương có đối tượng tương quan còn cầu nguyện là một hợp nhất với Tối Cao. Khi hành giả Nhân Điện cầu nguyện cho sự an bình của một thiên tai như động đất, bão lụt, hay nhân tai như chiến tranh, tai họa, nhân điện hành giả dùng Bát nhã tâm tiếp xúc với Tâm Linh Tối Cao mà không cần biết nạn nhân, không cần thấy sự tàn phá. Hành giả yên lặng, thiền định.
Theo Đức Giê Xu, kẻ cầu nguyện tĩnh chỉ đơn độc. Theo Đức Phật, thiền định để cầu nguyện. Bản chất phẩm tính của tĩnh chỉ đơn độc và thiền định là một. Ngôn ngữ chỉ xử dụng khi tương thông với tha nhân (người khác). Đấng Tối Cao, Tâm Linh Tối Cao, không phải là tha nhân. Do đó ngôn ngữ không cần thiết trong nguyện cầu. ĐỪNG BAO GIỜ PHÔ BÀY CẦU NGUYỆN ĐỂ CHO MỌI NGƯỜI THẤY MÌNH CẦU NGUYỆN. Đó là phẩm tính của tôn giáo. ĐỪNG BIỂU DIỄN MỘT HÀNH LỂ NGUYỆN CẦU hay nói rõ hơn là trình diễn trước công chúng lễ nguyện cầu. CẦU NGUYỆN NÊN ĐƠN ĐỘC TĨNH MỊCH, KHÔNG NGÔN NGỮ. Ngôn ngữ chỉ cần với công chúng. CẦU NGUYỆN LÀ TÌNH THƯƠNG YÊN LẶNG, là đường vào TÂM LINH TỐI CAO. CẦU NGUYỆN KHÔNG CHO MÌNH MÀ CHO NGƯỜI KHÁC. Cầu nguyện cho mình là vị kỷ, vị ngã. Vị kỷ, vị ngã, tất sẽ KHÔNG gặp Tâm Linh Tối Cao; vì vị kỷ, vị ngã không là tình thương. Vị kỷ, vị ngã sẽ không được đón tiếp trong thế giới, mà sẽ bị lưu đày trong một thế giới xa lạ, trong một ốc đảo giữa xã hội.
Như Đức Giê Xu đã nói: “ Khi nguyện cầu, hãy vào phòng, đóng cửa lại, cầu nguyện Cha trong yên tĩnh thâm sâu và Cha, người thấy tận thâm sâu, sẽ tưởng thưởng người.”
Đức Giê Xu lại nói: “ Khi cầu nguyện, ĐỪNG như những người giả đạo đức thích đứng cầu nguyện trong đền thờ và ở đường phố để thiên hạ trông thấy.”
Ngoài ra, về phương diện đạo lý, sự bình phẩm là một biện biệt của nhị nguyên luận, làm thiệt hại đến tình thương. Vì bất cứ một bình phẩm nào cũng căn cứ trên một số tiêu chuẩn của thế giới nhị nguyên: thiện – ác, tốt – xấu, nên làm – không nên làm, mê muội – huệ trí, nhục – vinh, v.v… Khi đặt nền tảng trên những tiêu chuẩn này để phê phán người khác, người bị phê phán bị vi phạm đến tự ái, đến danh dự. Phê phán là tấn công, là bạo hành, là tranh chấp, là đánh bại, là khảo hạch, là chinh phục người khác. Làm sao có thân tình khi phê phán.
Về phê phán, ta nên lấy tâm của một thiền giả mà nhìn vũ trụ, vạn vật, và người. Nhìn vật, nhìn người như vật và người tự hiện hữu; chấp nhận mỗi vật, mỗi người có một đặc điểm riêng biệt. Nói cách khác, quan điểm của thiền giả, của Tâm Linh Thiền Định là KHÔNG PHÊ PHÁN, BÌNH PHẨM. Con vịt có chân thấp, giải phẩu và nối cho chân nó cao, tất nhiên sẽ làm đau con vịt. Con vạc có chân cao mà cắt cho chân nó ngắn, tất nhiên sẽ làm đau con vạc. Không thể làm cho Huỳnh hoa trở thành Hướng dương, mà muốn thưởng ngoạn hoa Huỳnh, ta phải thức và chờ đợi đến nửa khuya. Đây gọi là “ Chí nhơn vô kỷ ”, không lấy mình làm tiêu chuẩn để đánh giá người khác, vật khác; bởi vì người nào, vật nào cũng được an định trong vị trí, trong sinh thể của người ấy và vật ấy.
Trong tương giao, cổ nhân đã nói: “ Tiên trách kỷ, hậu trách bỉ ”, có nghĩa là “ Ta hãy trách mình trước, sau mới trách người.” Điều đó có nghĩa là KHÔNG TRÁCH CỨ AI hay PHÊ PHÁN AI trong tương giao thường nhật. Hãy đẻ cho thế giới như nó hiện hữu.
Tôi, Thầy Đáng, mượn lời của Đức Giê Xu để kết thúc thảo luận về phán xét; Ngài đã nói:
“ Hãy đừng phê phán ai để các người khỏi bị phê phán. Phê phán kẻ khác như thế nào thì các người cũng bị phê phán như thế ấy. Tại sao nhín cái rác trong mắt anh em mà chẳng thấy cây đà trong mắt ngươi.”
Tóm lại, phê phán một điểm xấu của kẻ khác, ngay khi nghĩ về điểm xấu này, tự người phê phán đã gieo một chủng tử xấu trong tâm mình. Ngược lại, tán dương điểm tốt của người khác, người phê phán đã tự gieo một chủng tử tốt, an bình trong tâm mình. Bình phẩm khuyết đỉểm của người khác là tạo bạn thành thù. Tán dương ưu điểm của người khác là gây tình bằng hữu.
Đó là điều mà Khổng Tử đã nói: “ Quân tử thành nhân chi mỹ, bất thành nhân chi ác ”.

Trực Chỉ Nhân Tâm
Như đã nói ở trên, từ các cổ kinh, giản lược còn lại một phần chính, từ phần chính, ta nhìn trực chỉ tâm ý của mình, khai thị chân lý mà quên tất cả cổ kinh, tức đạt đạo. Tất cả kinh điển, ngôn ngữ của các bậc chân sư hay thầy chỉ là phương tiện, tất cả các luận thuyết trong cổ kinh đều chỉ là phương tiện, bỏ phương tiện khi đạt được đích. Như Trang Tử đã nói:
“Có nơm là vì cá, “ Thuyên giả sở dĩ tại ngư,
Được cá hãy quên nơm. Đắc ngư nhi vong thuyên.
Có bẩy là vì thỏ, Đề giả sở dĩ tại thố,
Được thỏ hãy quên bẩy. Đắc thố nhi vong đề.
Có lời là vì ý, Ngôn giả sở dĩ tại ý,
Đạt ý hãy quên lời.” Đắc ý nhi vong ngôn.”

Hơn thế nữa, “Thư bất tận ngôn. Ngôn bất tận ý.” Có nghĩa là: Kinh không nói hết lời. Lời không nói hết ý. Vậy đọc kinh, thư, sách, phải vượt kinh, thư, sách để đạt thâm ý. Tụng kinh, thư, sách, sẽ chết vì kinh, thư, sách mà không đạt đạo. Xin đan cử một thí dụ:
Trang Tử mơ thấy mình là bướm, vui thân phận của bướm mà không còn biết mình là Trang Tử. Tỉnh mộng, thấy mình là Trang Tử, rồi bàng hoàng không biết Trang Tử mơ là bướm hay bướm mơ là Trang Tử?
Người vì ngôn từ, tin rằng Trang Tử mơ thấy mình hóa bướm mà quên rằng đây chỉ là câu chuyện ngụ ngôn trong Nam Hoa Kinh. Thật vậy, Trang Tử sao lại mơ thấy mình là bướm? Nếu Trang Tử mà mơ, mộng, thì Trang Tử không là Trang Tử. Người hiểu ý thì cho rằng, qua ngụ ngôn, Trang Tử hàm dụ đời là giấc mộng, thế giới là huyễn ảo. Đây không phải là một thế giới đối tượng của khoa học gia mà là một thế giới mà con người đã tạo ra trong tâm trí mình. Đây là cái bánh xe tâm luân hồi, là Samsara, theo phạn ngữ. Đây là thế giới mà Đức Phật quan tâm đến.
Câu chuyện tiếp theo đây giúp cho chúng ta thấy sự nô lệ của ngôn từ, kinh điển đã làm mất sáng tạo của con người tìm về chân lý:
Có hai tu viện bên ven đồi: Cao Sơn và Thâm Hải. Tuy gần nhưng hai tu viện hoàn toàn cách biệt. Một hôm, Trưởng lão của tu viện Cao Sơn sai một tiểu đồng đi đến một quán nhỏ để mua hoa quả và căn dặn chú tiểu, nếu gặp tiểu đòng của Thâm Hải tu viện, chớ hỏi han bất cứ một điều gì. Xuống núi, Cao Sơn tiểu đồng gặp Thâm Hải tiểu đồng, quên lời dặn của Trưởng lão, bèn hỏi:
- Cậu đi đâu đấy?
Chân ta đi đến đâu thì ta đi đến đấy.
- Chân ta đi đến đâu thì ta đi đến đấy.
Cao Sơn tiểu đồng về thưa lại với Trưởng lão:
- Đệ tử biết rõ là Thâm Hải tiểu đồng đi chợ mua rau, nhưng khi hỏi thì nó trả lời là “chân nó đi đến đâu thì nó đến đấy”. Tức chết đi được.
- Thầy đã bảo con là đừng hỏi bất cứ người nào bên Thâm Hải đấy mà! Ngày mai, nếu nó còn trả lời như vậy thì con hỏi nó, “nếu chân nó gẫy thì nò đi đến đâu?”
Cao Sơn tiểu đồng mừng rỡ và lẩm nhẩm nhắc thuộc lời đáp này với hy vọng ngày mai gặp lại tiểu đồng bên kia sẽ cho biết tay mình.
Quả nhiên, sáng hôm sau, Cao Sơn tiểu đồng xuống núi gặp chú tiểu hôm trước và hỏi:
- Cậu đi đâu đấy?
- Gió đưa ta đến đâu thì ta đi đến đấy.
Chú tiểu Cao Sơn về thưa lại với Trưởng lão. Trưởng lão căn dặn, ngày mai, nếu gặp thằng bé láu lĩnh đó, thì con hỏi nó, “nếu không có gió thì nó đi đâu?” Cao Sơn tiểu đồng hí hửng, chắc bụng ràng ngày mai, chú tiểu Thâm Hải sẽ biết tay ta. Thế rồi Cao Sơn tiểu đồng lẩm bẩm học thuộc câu trả lời. Quả nhiên, sáng hôm sau, cậu ta gặp chú tiểu Thâm Hải và lại hỏi:
- Cậu đi đâu đấy?
- Tôi đi chợ mua rau.
Cao Sơn tiểu đồng cụt hứng, cúi đầu im lặng.
Câu chuyện giúp cho chúng ta thấy rằng NÔ LỆ NGÔN TỪ, KINH KỆ, mà không xem nó như là phương tiện để đạt Đạo, thì người tụng kinh sách hay học thuộc lời thầy nói chẳng khác nào như Cao Sơn tiểu đồng.

Kiến Tánh Đạt Chân Lý
Như đã trình bày, siêu vượt ngôn ngữ, kinh điển để trực chỉ nhân tâm tức là tìm về chân lý. Thực vậy, Chandogya Upanishad đã nói:
“Tat tvam asi”
Nghĩa là anh là cái đó, Atman là Brahman , linh thể trong mỗi người không khác với Thượng Đế, cũng không khác từ người này đến người khác. Chân lý là một, tại tâm. Chân lý không ngoài ta mà trong ta.
Đức Phật đã nói:
“Trước ta hằng hà Phật và sau ta cũng có hằng ha sa số Phật”.
Mọi người đều có Phật tính, chân lý hiện hữu thường hằng trong mọi người. Tuy nhiên, người không khai thị được chân lý vì thường nhật đắm mình trong giòng sông Samsara (luân hồi), trong thế giới huyền ảo. Hằng ngàn người đi trên đường phố vẫn chìm đắm trong nhật mộng triền miên, như ngủ trong đêm. Mấy ai đang đi và biết đang đi, hay đang bước chân mà tâm trí vẫn luân lưu trong giòng cảm nghĩ, tư tưởng, viễn đồ, ước muốn, v.v…Mấy ai đang thở mà biết được qua mỗi hơi thở, đang đón nhận tình thương của Thượng Thiên. TRỞ VỀ TÂM LÀ THỨC TỈNH. Không thức tỉnh, không trở về được tâm, không đạt chân lý vì còn ngụp lặn trong bến sông mê.
Câu chuyện ngụ ngôn xưa đã diễn đạt được tâm cảnh này:
Một hôm, Bóng Tối khiếu nại với Thượng Đế rằng: “Ánh Sáng luôn luôn xua đuổi tôi bất cứ lúc nào, nơi nào. Sự hiện hữu của Ánh Sáng đã làm cho tôi không hiện hữu. Tôi bị săn đuổi suốt cuộc đời. Đây là một bất công hoàn toàn. Tôi chưa làm một điều gì phạm đến nó, Ánh Sáng.”
Đúng! Đây là một khiếu nại hơp lý! Thượng Đế trả lời.
Hôm sau, Ánh Sáng được gọi đến để thẩm vấn về khiếu nại của Bóng Tối.
Ánh Sang thưa rằng:
Tôi chưa từng biết Bóng Tối. Tôi chưa từng làm bất cứ điều gì đối với Bóng Tối, khiếu nại hoàn toàn vô căn cứ. Xin Ngài cho tôi gặp Bóng Tối để đối chứng. Thỉnh cầu Ngài gọi Bóng Tối đến đây.
Phiên tòa đình hoãn vô thời gian vì Thượng Đế không thể triệu dụng Bóng Tối đến trước mặt Ánh Sáng và ngược lại. Bóng TốI và Ánh Sáng không thể hiện diện cùng lúc.
Hãy thắp một ngọn đuốc TỰ HÀNH HƯƠNG trở về tâm, KHAI NGỘ CHÂN LÝ. Trực chỉ nhân tâm là vượt bến mê, cũng như hiện hữu của Ánh Sáng tức khắc Bóng Tối triệt tiêu. Soren Kierkegaard, triết gia Đan Mạch cũng đã nói: “Chân lý tại chủ thể” hay nói cách khác, chân lý tại tâm.
Cần phân biệt, sự kiện và chân lý. Sự kiện là đối thể; đây là đối tượng của khoa học. Chân lý là đối tượng của tôn giáo. CHÂN LÝ KHÔNG BAO GIỜ LÀ LÝ THUYẾT, hay một định đề, mà ngược lại, CHÂN LÝ LÀ MỘT THỂ NGHIỆM. Ta có thể giải thích làm thế nào để tìm chân lý, nhưng không thể nói chân lý là gì.
Hào Từ , quẻ Địa Lôi Phục trong Kinh Dịch đã nói về “Phản phục kỳ đạo”, đạo trở về chính tâm.
Hào 2: Hưu phục, cát – có nghĩa là trở về tâm, trực chỉ trở lại tâm, là tốt.
Hào 3: Tần phục, lệ, vô cửu – có nghĩa là liên tục trở về tâm, tuy khó khăn nhưng tốt.
Hào 5: Đôn phục, vô hối – Có nghĩa là đôn hậu trở về tâm, không có gì hối hận, và sau hết
Hào 6: Mê phục, hung, hữu tai sảnh – có nghĩa là mê muội mà không trở về tâm, tất bị tai vạ từ ngoài đưa đến. Tai vạ đây là đắm chìm trong bể khổ.
Cùng quan điểm chân lý tại tâm, khi trả lời người Pharisee, Đức Giê Xu đã nói: “ Nước của Thiên Chúa không ở đây, không ở đó. Thật vậy, nước của Thiên Chúa ở trong các ngươi.”
Với Đức Phật, để trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật, cuộc hành hương này gọi là BÁT CHÁNH ĐẠO. Đây là tám bước trên đạo lý. Nói cách khác, tám bước trên Chánh Đạo trở về tâm. Chánh (đúng) thì chỉ có một; mà tà (sai) thì nhiều. Chánh luôn luôn hiện hữu tại tâm, mà xa rời tâm, vọng ngoại tức là tà, là sai. Đó là lý do Đức Phật từ khước trả lời Malunkyaputra về vũ trụ vô hạn hay hữu hạn, về thế giới trường tồn hay bất trường tồn,v.v…. Ngài nói: “ Malunkyaputra, giả dụ, có một người bị thương bởi một tên độc và cần khẩn cấp một lương y để chữa trị. Nếu anh ta nói rằng: “Hãy chờ, tôi không đồng ý lấy mũi tên ra để chữa trị, mà phải cho tôi biết ai đã bắn tôi. Tôi cần biết người xạ thủ từ đâu đến, cung tiễn mà người ấy dùng để bắn tôi làm bằng gỗ gì và ai làm cung tiễn này. Sau khi cho tôi biết tất cả những sự kiện này, tôi sẽ bằng lòng cho lấy mũi tên ra và trị độc”. Anh nghĩ thế nào về người đang bị thương này ?”
Malunkyaputra trả lời: “ Thưa Ngài, anh ấy quả là một người điên rồ. Câu hỏi của anh ta không liên quan đến việc lấy mũi tên ra và trị độc, và dĩ nhiên anh ấy sẽ chết trước khi những câu hỏi của anh được trả lời.”
- “Malunkyaputra, cũng như vậy, ta không dạy về vũ trụ vô hạn hay hữu hạn, thế giới này trường tồn hay bất trường tồn, người nhập niết bàn sau khi chết, hiện hữu hay không hiện hữu, v.v…. Ta chỉ giảng dạy làm sao lấy mũi tên độc ra: chân lý về sự đau khổ, nguồn gốc của khổ đau, phương cách chấm dứt khổ đau, và Bát Chánh Đạo”.


Đây, cuộc hành hương Bát Chánh Đạo:
1. Chánh Kiến (Samma – Ditthi)
2. Chánh Niệm (Samma – Sankappa)
3. Chánh Ngữ (Samma – Vacha)
4. Chánh Nghiệp (Samma – Kammanta)
5. Chánh Mạng (Samma – Ajiva)
6. Chánh Tinh Tiến (Samma – Yayama)
7. Chánh Tư Duy (Samma – Sati)
8. Chánh Định (Samma – Samadhi)

Bảy bước đầu từ Chánh Kiến đến Chánh Tư Duy quy hướng về bước thứ tám, Chánh Định, Samadhi, hội nhập với Tâm Linh Tối Cao, Như Tâm, Bát Nhã Tâm, Phật Tâm, Chân lý tại Tâm.
Bát Chánh Đạo, như Thóan từ của quẻ Địa Lôi Phục trong Kinh Dịch đã nói: “Thất nhật lai phục, thiên hành giả”, có nghĩa là bảy ngày trở lại là đạo Trời! Trở lại tức trở về tâm, trực chỉ nhân tâm để kiến tánh.
Bát Chánh Đạo, như thánh kinh theo Cựu Ước, ngày thứ bảy, Thiên Chúa đã hoàn tất sự sáng tạo; bảy bước đã hoàn tất, bước thứ tám an nghĩ trong nước của Thiên Chúa. Theo Đức Chúa Giê Xu, nước của Thiên Chúa trong ta. Vậy bước thứ tám, Samadhi, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh, khai ngộ.
Để kết luận, đích của Tâm Linh Con Người Thiền Định là:
1. Phát triễn tình thương vô điều kiện trong tương thông với nhân loại, xã hội, quốc gia, cộng đồng mà ta sống với.
2. Ứng dụng năng lượng vũ trụ (còn gọi là nhân điện, nhân ở đây là nhân từ) để cứu nhân độ đời trong Từ bi, Bác ái, Nhân từ.
3. Hành tâm linh thiền định để trực chỉ nhân tâm đạt chân lý, vì chân lý trong ta. Phật tại tâm, nước của Thiên Chúa tại tâm. ĐÂY LÀ TÂM CHỈ mà tôi đã kết thúc khóa học nhân điện lớp 6 tại Washington D.C. ngày 28/9/99 đến ngày 5/10/99, khi trả lời cho một học viên người Ý tại hội trường ở Hòa Lan, qua hệ thống truyền hình viễn thông từ Hoa Kỳ.

******




XIN GUI DEN CAC BAN DONG MON BAI VIET CUA THAY LUONG MINH DANG. DO MOT HV NHAN DIEN DA BO CONG RA DANH MAY. KINH CHUC CAC BAN THU NHAN DUOC NHIEU MAT Y O BAI VIET NAY CUA THAY.
__________________
Thất Sơn Phu Tử

thay đổi nội dung bởi: thatsonphutu, 17-10-2009 lúc 2:04 pm.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 10 người đã gửi lời cảm ơn đến thatsonphutu vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (18-10-2009), cheznous (07-07-2010), htxmai2001 (19-10-2009), huongiangcosi (21-07-2010), ltduy001 (17-10-2009), Luciola (20-10-2009), macvophong (17-10-2009), tamnhat13 (17-10-2009), thanhhuong_geo (16-04-2011), Udambara (19-10-2009)
Old 17-10-2009, 10:10 pm  
ltduy001
Senior Member
 

Default
cảm ơn bác đã post
nhưng cái này có in trong sách Tâm linh thiền định của thầy mà
( sách tặng không bán đó)
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 2 người đã gửi lời cảm ơn đến ltduy001 vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (18-10-2009), thanhhuong_geo (16-04-2011)
Gởi Ðề Tài Mới Trả lời


Những đề tài tương tự
Ðề tài Người Gởi Chuyên mục Trả lời Bài mới gởi
Những tài liệu đáng suy ngẫm! admin Ứng dụng tâm linh vào đời sống 43 07-02-2010 6:51 pm
Pháp sư Hamud nói về cõi vô hình. Nhat nguyen Cõi vô hình 11 28-06-2009 1:56 am
Sự hiện diện của các linh hồn tốt Luciola Tâm linh 2 17-06-2009 12:07 am
LỚp TiỀm NĂng I-ii-iii, Houston, Texas, U.s thatsonphutu Tâm linh 0 28-02-2008 11:19 pm
Thầy nói về thay đổi linh hồn. ponahlo Cõi vô hình 0 28-02-2008 8:21 pm

Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Công cụ
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến



UE-GLOBAL.COM
Powered by vBulletin & vBadvanced CMPS
Copyright © 2000 - 2014, Jelsoft Enterprises Ltd.
vBulletin Skin developed by: vBStyles